Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG BÀI HỌC CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ CỦA CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN



                                                                     2// Th.S Nguyễn Hữu Nghị
                                                                  P.CN Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ
1.     Bối cảnh ra đời:
       Trong quá trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đón nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin và kiên định tuyệt đối con đường này, cũng từ đây mục tiêu cách mạng định hình rõ nét trong tư tưởng của Người: phải đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và phong kiến, thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa và con đường giải phóng duy nhất là cách mạng bạo lực. Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng đã xác định rõ chủ trương làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, trong mục d của Chánh cương  vắn tắt có nội dung: “tổ chức ra quân đội công nông”. Với tầm nhìn xa trông rộng, từ năm 1925 khi về Quảng Châu hoạt động, Người mở các lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cách mạng. Sau mỗi khóa học Người trực tiếp lựa chọn những học viên xuất sắc và tìm cách gửi vào học tiếp ở trường quân sự ở Trung quốc hay Liên Xô…để đào tạo cán bộ quân sự. Người căn dặn: “không được sao nhãng việc học chính trị. Chính  trị, quân sự phải đi đôi. Cách mạng sau này rất cần đến đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị giỏi giang…”[1] điều đó thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bác dự báo về sự ra đời của đội quân cách mạng – Quân đội nhân dân Việt Nam. 
        Trong những năm từ 1930 đến 1943, dù hoạt động ở Liên Xô, Trung Quốc hay Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng lên hàng đầu, Người viết bài, sưu tầm tư liệu gửi về nước, phổ biến những kinh nghiệm kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, kinh nghiệm tổ chức các đội tự vệ, du kích, giữa du kích và quân đội chính quy. Người nêu quan điểm: khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng…cần phải vận động quần chúng trước, khi quần chúng giác ngộ cao thì sẽ có vũ khí; người trước, súng sau; chính trị, quân sự đi đôi.
        Đầu năm 1944, tình hình cách mạng trong cả nước diễn ra sôi sục, ngày 7 tháng 5, dựa vào chủ trương của TW Đảng, Tổng bộ Việt Minh ra “Chỉ thị về việc sửa soạn khởi  nghĩa” nhằm đưa phong trào cách mạng nước ta lên một bước mới, Chỉ thị ghi rõ: “Ai xông ra đánh thù – toàn dân ta, nhưng phải có những đội quân cách mạng cơ bản, có tập tành thao lược”, “xông ra trước rồi dân chúng hưởng ứng theo”, đó là “những đội tiền phong cách mạng kéo các tầng lớp nhân dân đứng dậy tất cả”. Bởi vậy phải “hết sức phát triển và thống nhất các đội tự vệ sẵn có và tổ chức những đội tự vệ mới”. Trên cơ sở đó tổ chức ra những “bộ đội du kích chính thức”[2] 
        Tháng 10 năm 1944, đúng lúc nhân dân vùng Cao – Bắc – Lạng chuẩn bị phát động khởi nghĩa thì Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước. Sau khi nghe đồng chí ủy viên TW Đảng và các cán bộ chủ chốt của chiến khu Cao – Bắc – Lạng báo cáo tình hình, Người chỉ thị hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì: “chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao – Bắc – Lạng mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể của toàn quốc, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục…”[3] và Người chỉ rõ: cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay, chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới đẩy mạnh phong trào tiến lên…Trên cơ sở đó, Người chỉ thị: chọn những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang để hoạt động. Dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở phát triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lập một đội quân giải phóng.
       Đầu tháng 12 năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh đến Pác Bó báo cáo tình hình cách mạng. Tại buổi làm việc, Người thay mặt Thường vụ TW Đảng chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách công tác quân sự của Đảng, đảm nhiệm việc thành lập đội vũ trang tập trung.
      Giữa tháng 12 năm 1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận được một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung bức thư chính là “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Mặc dù tên gọi của Quân đội nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu thành lập là “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”, nhưng nhân dân Việt Bắc thường gọi một cách ngắn gọn là “Bộ đội tuyên truyền”. Tất cả lương thực, thực phẩm bà con đem ủng hộ bộ đội còn được gọi là “gạo tuyên truyền”, “muối tuyên truyền”, các kho chứa lương thực, thực phẩm, đạn dược đều được gọi là “Kho tuyên truyền”. Điều này xuất phát từ chính những kết quả đạt được rất to lớn, sâu sắc và toàn diện của bộ đội ta trong tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia chiến đấu và ủng hộ sức người, sức của để sớm đưa cách mạng đến thành công. Cách gọi yêu thương, trìu mến đó của nhân dân ta, cùng với những kết quả đạt được  trong 70 năm xây dựng, chiến đấu, và trưởng thành đã khẳng định quân đội ta, nhất là lực lượng làm công tác chính trị đã quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo “là đội quân tuyên truyền” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đánh giặc giỏi mà làm dân vận cũng hết sức hiệu quả, chính là quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Người: nó là đội quân tuyên truyền.
2.     Những bài học còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay:
       Thứ nhất: Quân đội phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ thù không thể nào tiêu diệt được. Tư tưởng của Người qua bản Chỉ thị đã kế thừa truyền thống toàn dân đánh giặc của dân tộc, ý thức đoàn kết nhân dân chiến đấu để giữ nước, gắn bó nước với nhà. Hơn nữa, với việc vận dụng sáng tạo nguyên lý Chủ nghĩa Mác -  Lê nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, Người đã đưa nghệ thuật chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam đạt đến trình độ độc đáo cả về lý luận và thực tiễn. Người luôn luôn nhắc nhở: phải dựa vào dân, có dân là có tất cả. Bài học này đã được Đảng, Quân đội và nhân dân ta vận dụng triệt để trong 2 cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc ta ở thế kỷ XX với tư tưởng toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của quốc tế.
       Trong bối cảnh thế giới diễn biến hết sức phức tạp hiện nay, trước những nguy cơ tiềm ẩn khó lường, những mối quan hệ phức tạp, chồng chéo vừa hợp tác vừa đấu tranh trong đời sống chính trị quốc tế, đặc biệt là vấn đề tranh chấp chủ quyền, đòi hỏi chúng ta có một đội quân tinh nhuệ, hiện đại. Nhưng quân đội đó để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, phải dựa trên nền tảng nền quốc phòng toàn dân, phát huy nghệ thuật chiến tranh nhân dân nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Bài học này đã được vận dụng rất tốt trong quá trình kiên trì đấu tranh yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông những ngày tháng 5, tháng 6 vừa qua. Cách ứng xử mềm dẻo nhưng kiên quyết, nhất quán được dư luận quốc tế đánh giá cao.
     Thứ hai: Tổ chức của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.
      Với bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng, được sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, hệ thống tổ chức đảng các cấp trong quân đội hiện nay là yếu tố tiên quyết đảm bảo cho mọi quân nhân vững vàng về bản lĩnh chính trị, tư tưởng – đáp ứng yêu cầu mới ngày càng cao đối với chất lượng chính trị của quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Kiên quyết đấu tranh và đập tan các luận điệu phản động đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân và quân đội nhân dân.
     Trong lịch sử dân tộc thời cổ trung đại, dù chưa có tổ chức chính trị trong quân đội nhưng cha ông ta đã vận dụng, sáng tạo và phát huy cao độ nhân tố chính trị tinh thần khi tiến hành chiến tranh chống giặc ngoại xâm như những Hội nghị Diên Hồng, Hội nghị Bình than thời nhà Trần thế kỷ XIII đã thể hiện sâu sắc công tác chính trị, tinh thần đoàn kết nhân tâm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc của mọi tầng lớp nhân dân mà đội tiên phong là lực lượng quân đội. Kế thừa tư tưởng đó, Công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam luôn được đặc biệt coi trọng. Đặc biệt, Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 513 của Đảng ủy quân sự TW đi vào cuộc sống, vai trò của đội ngũ Chính ủy, Chính trị viên được phát huy cao độ trong công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân tố chính trị, tinh thần là sự đảm bảo cho mọi thắng lợi của quân đội ta, dù chiến tranh công nghệ cao, vũ khí có hiện đại đến đâu thì nhân tố con người, nhân tố tinh thần mới là yếu tố quyết định. Hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX chính là minh chứng không thể thuyết phục hơn trước thế giới về điều đó.
      Thứ ba: Tư tưởng đã ra quân là phải đánh thắng:
      Ra quân là phải đánh thắng, đánh thắng ngay trận đầu tạo nhuệ khí và lòng tin trong nhân dân. Đây là sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự của tổ tiên trong đánh giặc cứu nước, từ chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, cuộc tiến công chiến lược bảo vệ tổ quốc dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt năm 1077, Quang Trung đại phá quân Xiêm 1785, quân Thanh 1789 cho đến chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, chiến dịch Biên giới 1950, tư tưởng “đánh chắc, tiến chắc, có chắc thắng thì mới quyết đánh” của chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, rồi hải quân ta chiến thắng trận đầu giòn giã 5/8/1965 mở màn công cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, trận “Hà Nội Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm cuối năm 1972…. 
      Phát huy tinh thần ấy, ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã đánh thắng hai trận giòn giã: Phay Khắt và Nà Ngần. Trên tờ báo Việt Nam độc lập, cơ quan tuyên truyền Việt Minh Cao – Bắc – Lạng số 201, ngày 5 tháng 1 năm 1945 có đăng 2 bản “Thông cáo” do đội tuyên truyền của “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” gửi đến:
      Bản “Thông cáo số 1”: “ngày 11 tháng 11 ta, tức ngày 25 tháng 12 Tây, một bộ đội lạ, ở đâu đến không rõ, bộ đội gì không rõ, kéo đến đồn Phay Khắt, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình. Sau đó, người cai Tây và tất cả 17 người lính dõng mang toàn bộ khí giới trong đồn và tuyên bố với dân làng là cùng cách mạng đi đánh Nhật, rồi cùng bộ đội lạ kéo đi đâu mất. Cũng ngày ấy tên Việt gian hoạt động ở tổng Kim Mã là Xã Bôi, biến đâu mất”[4].
      Bản “Thông cáo số 2”: “Sáng ngày 12 tháng 11 ta, tức ngày 26 Tây, lúc 7 giờ  14 phút, đội tuyên truyền của Việt Nam giải phóng quân kéo đến đồn Nà Ngần, xã Cẩm Lý, họ kéo cờ đỏ sao vàng năm cánh lên, xưng rõ là quân cách mạng, đến lấy súng đạn của Tây phát xít, tuyên bố quân cách mạng Việt Nam không bắn binh lính Việt Nam, kêu gọi anh em binh lính Việt Nam giơ tay lên đầu hàng…”; “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thu hồi toàn bộ súng đạn trong đồn”; “ Đến 8 giờ, đội tuyên truyền rút khỏi đồn, vừa đi vừa hát bài giải phóng quân ca”[5]
      Nội dung hai bản thông cáo trên đã khẳng định sự kế thừa xuất sắc nghệ thuật chiến tranh: bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, linh hoạt, mưu trí; quyết tâm đánh thắng trận đầu, đánh tiêu diệt gọn của quân đội ta ngay từ ngày đầu thành lập.
      Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được coi như cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng, Bản Chỉ thị hết sức ngắn gọn, súc tích, hàm chứa nhiều nội dung cơ bản, chủ yếu trong đường lối quân sự của Đảng, là ngọn đèn soi sáng cho mỗi bước đi, mỗi chặng đường, mỗi chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân ta trong xây dựng và chiến đấu, đặc biệt là trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của đất nước trong thời  kỳ hội nhập và phát triển hiện nay.
·        Địa chỉ liên lạc: 2// Nguyễn Hữu Nghị, PCN Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ - Trường Sĩ quan Chính trị. ĐT: 0915.074275


[1] Mạc Văn Úc, Tầm nhìn của bác về quân đội công nông,Tạp chí Sự kiện và nhân chứng số 1/2004, trang 6)
[2] Hồng Nam, Chỉ thị đựng trong bao thuốc lá,Tạp chí Sự kiện và nhân chứng số 1/2004, trang 27)
[3] Ngọc Đức, Hai bản “thông cáo” của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Tạp chí Sự kiện và nhân chứng số 79, tháng 11 năm 1999, trang 5.
[4] Ngọc Đức, Hai bản “thông cáo” của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Tạp chí Sự kiện và nhân chứng số 79, tháng 11 năm 1999, trang 5.

[5] Ngọc Đức, Hai bản “thông cáo” của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Tạp chí Sự kiện và nhân chứng số 79, tháng 11 năm 1999, trang 5.

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

TRUNG QUỐC MUÔN ĐỜI KHÔNG THAY ĐỔI BẢN CHẤT

        Lịch sử Trung Quốc may nghìn năm qua nếu ai chuyên sâu tìm hiểu, nghiên cứu sẽ thấy tư tưởng bá quyền của giới chức lãnh đạo chưa bao giờ thay đổi, tham vọng đó tùy từng điều kiện trong tiến trình lịch sử mà bộc lộ trắng trợn hay âm ỉ chờ thời. Lãnh thổ Trung quốc buổi sơ khai ở lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang cũng chỉ có diện tích trên 300.000km2, bằng quá trình thôn tính, xâm lược và đồng hóa mà nước Trung Hoa bá quyền đã mở rộng tới  9.706.961 km2 như ngày nay.
        Ngay từ thời Hạ, Thương, Chu người Trung Quốc đã thực hiện chiến lược "ĐÔNG BỂ, TÂY BÌNH, NAM CHINH, BẮC PHẠT". Họ đã cơ bản đạt mục đích xâm lược ở Tây, Nam, và Bắc, đồng hóa rất nhiều dân tộc, tộc người không phải người Hoa nhưng đã bị Hán hóa hoàn toàn, còn phía Đông là Bể -  biển nên họ dừng lại vì không đủ lực nhưng không vi thế mà họ từ bỏ lòng tham.
       Trung quốc thời cổ trung đại có thể tự hào là một trong những nền văn minh phát triển rực rỡ của nhân loại, nhưng dưới vó ngựa của đế quốc Mông - Nguyên họ cảm nhận thế nào khi danh dự, tự do của dân tộc bị chà đạp? đến thời cận đại họ càng cảm nhận sâu sắc hơn nỗi nhục mất nước, họ biết thế nào là cá lớn nuốt cá bé, của ngoại giao pháo hạm chà đạp lên nhân quyền, công lý và lẽ phải, biết bao tô giới, nhượng địa phải cắt cho thực dân phương Tây với nỗi nhục chia xé lãnh thổ hàng trăm năm như Hồng Kong, Ma Cao....biết bao lá cờ thực dân đế quốc phấp phới trên khắp lãnh thổ Trung Quốc là nỗi ô nhục của triệu triệu người dân yêu nước Trung Quốc... bài học nhỡn tiền còn sờ sờ ra đó, họ đã rút ra cái gi khi biết gieo nhân nào gặt quả ấy? vậy mà hà cớ gì giờ đây họ dựa vào sức mạnh kinh tế - quân sự để khiêu khích, gây xung đột tạo cớ leo thang xâm lược những nước nhỏ bé hơn để thỏa mãn tham vọng bành trướng - có xứng đáng với vai trò, vị thế của một cường quốc - 1 trong 5 nước ủy viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp Quốc? cơ quan quan trọng nhất trong giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới? đặc biệt khi họ đã từng là nạn nhân của sự xâm lược?
      Với các nước láng giềng, Trung Quốc luôn khẳng định mục tiêu hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển - đó là lời nói của họ, còn việc làm?  không cần phải thống nhất như những gì họ nói, chỉ cần đạt được mục đích cuối cùng của họ, cũng không phải bây giờ chúng ta mới nhận ra bộ mặt thật của Trung Quốc với tư tưởng KHÔNG CÓ BẠN BÈ VĨNH VIỄN, KHÔNG CÓ KẺ THÙ VĨNH  VIỄN, CHỈ CÓ LỢI ÍCH DÂN TỘC TRUNG QUỐC LÀ VĨNH VIỄN, và MÈO ĐEN HAY MÈO TRẮNG KHÔNG QUAN TRỌNG, QUAN TRỌNG LÀ MÈO NÀO BẮT ĐƯỢC CHUỘT...chúng ta không phủ nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam trông công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhưng chúng ta cũng biết Trung Quốc đã mặc cả những gì tại Hội nghị Giơ ne vơ 1954 với các nước lớn; Trung Quốc ủng hộ chúng ta kháng chiến chống Mỹ nhưng khuyên chúng ta trường  kỳ, càng  hàng trăm năm....và những gì họ mặc cả sau lưng chúng ta  với cái gọi là "nền ngoại giao bóng bàn" những năm 1971, 1972, khi Ngoại trưởng Mỹ Kít Sing Giơ đến Bắc Kinh, rồi hành động xâm lược quần đảo Hoàng Sa năm 1974 của Việt Nam - ngay trong lúc cùng chung lưng đấu cật, cùng chí hướng, lý tưởng mà còn trở mặt như vậy càng khiến thế giới nhận thức rõ hơn về bản chất dao hai lưỡi của Trung Quốc. Có lẽ cũng cần nhắc thêm sự kiện ngày 17/2/1979 Trung Quốc đơn phương vô nguyên vô cơ đưa quân xâm lược biên giới phia Bắc nước ta với ý định dạy cho Việt Nam một bài học, bài học gi? vì Việt Nam luôn nhường nhịn! luôn mong muốn được sống trong hòa bình, với lòng tin son sắt trước sau như một! Và 16 chữ vàng của Chính phủ, nhân dân 2 nước họ vứt đi đâu? mực còn chưa ráo họ đã quên sao?
     2/5/2014, khi Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đó là ngày Trung Quốc tự hủy hoại hình ảnh của mình trước toàn thế giới, thách thức dư luận, chà đạp lên luật pháp, công ước quốc tế mà Trung Quốc là một thành viên. Họ đã toan tính và có sự chuẩn bị rất kỹ càng thời điểm: thế giới đang tập chung sự chú ý vào tình hình bất ổn ở U cơ rai na, Tổng thống Mỹ vừa công du một số nước châu Á, khu vực Đông Nam Á chuẩn bị khai mạc hội nghị cấp cao ASEAN tại Mi an ma, nhân dân Việt Nam dang tưng bừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc tại chùa Bái Đính - Ninh Bình, họ đã hạ đặt giàn khoan trên vùng viển thuộc chủ quyền của Việt Nam, đưa gần một trăm tàu các loại như một sự diễu võ dương oai với sự tham gia của cả tàu hộ vệ tên lửa, hung hăng đâm vào tàu cảnh sát biển, tàu kiểm ngư, xua đuổi tàu cá của ngư dân trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và lu loa với nhân dân Trung Quốc  và thế giới rằng Việt Nam muốn gây căng thẳng, xung đột với Trung Quốc trên  Biển Đông...đúng là vừa ăn cướp vừa la làng, một quốc gia luôn vỗ ngực tự nhận mình là nước lớn nhưng lại có những hành động vô liêm sỉ, lưu manh ăn cướp, cơ hội. Thái độ đó, hành động đó lập tức bị cả thế giới lên án, từ các chính khách, các vị nguyên thủ quốc gia đến nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, ngay cả các học giả Trung Quốc cũng lên tiếng yêu cầu Trung Quốc chấm dút ngay lập tức hoạt động vi phạm chủ quyền nghiêm trọng với một quốc gia có chủ quyền, một thành viên đầy đủ của Liên hợp quốc.
       Hành động của Trung Quốc đã chạm đến lòng tự tôn dân tộc, ý chí không có gì quý hơn độc lập tự do của dòng giống Lạc Hồng mấy  ngàn năm qua, tinh thần chống quân xâm lược giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc vẫn còn nguyên giá trị qua bản Tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt trước quân xâm lược Tống:
                                               Sông núi nước Nam vua Nam ở
                                               Rành rành định phận tại sách trời
                                               Cớ sao lũ giạc sang xâm phạm
                                               Chúng bay se bị đánh tơi bời
    Có một điều chắc chắn rằng mỗi khi tổ quốc lâm nguy triệu triệu người Việt Nam từ các dân tộc, các vùng miền, từ tuổi xanh tới đầu bạc, nam, phụ, lão, ấu sẽ sẵn sàng cống hiến xương máu của mình để bảo vệ vững chắc chủ quyền dân tộc, đó là văn hóa nước Việt, tính cách  người Việt và bản lĩnh dân tộc Việt Nam. 

                                                                                             tg: Nguyễn Hữu Nghị
       

Thứ Năm, 24 tháng 4, 2014

TƯ TƯỞNG CỦA LÊ NIN VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM



                                                             Ths Nguyễn Hữu Nghị
                                                            
         V.I. Lê nin là vị lãnh tụ thiên tài kiệt xuất của phong trào cách mạng vô sản thế giới, Lê nin đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho lý tưởng cao cả: tiêu diệt chế độ bóc lột bất công, chuyên chế và trở thành nhà hoạt động chính trị có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX. Người đã biến tư tưởng của Mác, Ăng ghen về chủ nghĩa xã hội (CNXH) trở thành hiện thực trên một đất nước chiếm 1/6 diện tích hành tinh. Từ nước Nga Xô Viết, ngọn cờ CNXH đã tung bay trên khắp năm châu, từ Âu sang Á, Phi, Mỹ La tinh…nhờ tư tưởng của Người mà biết bao dân tộc lầm than, nô lệ đã dũng cảm đứng lên tranh đấu cho tự do, độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Lê nin và các dân tộc thuộc địa đã từng viết: “từ những người nông dân Việt Nam  đến những người dân săn bắn trong các rừng Đa Hô Mây, cũng đã thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn chủ bóc lột họ, và hiện đang tự quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toàn quyền. Họ cũng đã nghe nói rằng nước đó là nước Nga, rằng có những người dũng cảm, mà người dũng cảm nhất là Lê nin. Chỉ như thế cũng đủ làm cho họ ngưỡng mộ sâu sắc và đầy nhiệt tình đối với nước đó và lãnh tụ của nước đó” (1). Lê nin đã đi xa, nhưng những tư tưởng lý luận cách mạng của Người vẫn sống mãi và còn nguyên giá trị đối với thời đại ngày nay. Người đã vận dụng và phát triển tài tình lý luận cách mạng và khoa học của Mác, Ăng ghen và để lại cho chúng ta một học thuyết hoàn chỉnh về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. Học thuyết này không chỉ có giá trị to lớn đối với nước Nga Xô Viết trong lịch sử mà còn có giá trị phổ biến cho tất cả các nước tiến hành quá độ lên CNXH trong đó có Việt Nam.
       Học thuyết của V.I. Lê nin về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là một học thuyết hoàn chỉnh, khoa học, có nội dung hết sức phong phú về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Theo Mác và Lê nin thì thời kỳ quá độ là “thời kỳ của những cơn đau đẻ kéo dài”; và xã hội XHCN - giai đoạn đầu của CNCS  - là xã hội thoát thai từ xã hội TBCN sau những cơn đau ấy. Nói về tính chất và độ dài của thời kỳ quá độ, Lê nin cho rằng đó là thời kỳ đau khổ nhất, nhất thiết sẽ kéo dài rất lâu…nước nào càng lạc hậu thì cách mạng XHCN ở nước đó càng khó khăn trong việc chuyển từ những quan hệ cũ TBCN sang những quan hệ XHCN. Tính phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ đòi hỏi đảng cộng sản phải biết phân chia thời kỳ quá độ thành những bước quá độ nhỏ hơn. Lê nin đã chỉ rõ rằng trong chính sách của chúng ta, phải chia ra là nhiều bước quá độ nhỏ, những khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc biệt của từng bước quá độ.
       Những năm đầu sau Cách mạng tháng 10 /1917, nước Nga Xô Viết non trẻ gặp biết bao khó khăn, thử thách. Cũng từ bối cảnh ấy, Lê nin đã cống hiến xuất sắc vào việc vạch ra cho đất nước một đường lối chiến lược xây dựng CNXH. Có hai quan điểm, hai đường lối trong cải tạo XHCN đã được đem ra thử nghiệm ở thời kỳ này. Đó là “Chính sách cộng sản thời chiến”“Chính sách kinh tế mới”. Trong khi suy nghĩ về những bài học của “Chính sách cộng sản thời chiến”, một chính sách buộc phải đem ra thi hành trong thời kỳ nội chiến vào những năm 1918 - 1921, Lê nin đã đi đến kết luận là việc đẩy mạnh một cách giả tạo các cải tạo XHCN, khước từ không tận dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ, nhà nước hoá tất cả mọi hình thái hoạt động xã hội - chỉ mang trên mình những dấu hiệu hình thức của tính XHCN, dẫn đến xã hội hoá giả tạo sản xuất, phát sinh ra lề thói quan liêu và tầng lớp quan liêu. Kìm hãm xã hội phát triển, làm cho người dân bất bình, mất lòng tin vào đảng, tổng khủng hoảng xã hội, kinh tế và chính trị là kết quả không tránh khỏi của đường lối trên. Người đã dũng cảm thừa nhận “…chúng ta đã thất bại trong cái ý định dùng phương pháp “xung phong”, nghĩa là dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theo nguyên tắc XHCN” (2).  Lê nin cho thấy sự hiện diện cần thiết của nhiều hình thức sở hữu, kích thích lợi ích của người sản xuất bình thường ở nông thôn cũng như thành thị, tận dụng mọi hình thức quan hệ hàng hoá - tiền tệ đa dạng là phù hợp hơn cả với giai đoạn quá độ từ CNTB lên CNXH. Giai cấp vô sản có được trong tay quyền lực nhà nước, đảm bảo ưu tiên cho các hình thức quan hệ sản xuất XHCN mới (song không đước xoá bỏ một cách tuỳ tiện, cưỡng bức tất cả các hình thức khác), nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi cho người lao động về mặt xã hội - phát triển, như vậy tất yếu sẽ mang xu hướng XHCN được thể hiện rõ ràng.
      Về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, Lê nin cho rằng dưới nền chuyên chính vô sản, các giai cấp vẫn tồn tại, nhưng bộ mặt của mỗi giai cấp đều thay đổi, quan hệ qua lại giữa các giai cấp cũng biến đổi và đấu tranh giai cấp chưa chấm dứt mà chỉ diễn biến dưới những hình thức mới và bằng những phương pháp mới. Người nêu ra năm nhiệm vụ mới và tương ứng với chúng là năm hình thức đấu tranh giai cấp mới của giai cấp vô sản trong thời kỳ quá độ là: trấn áp sự kháng cự của bọn bóc lột; nội chiến; “trung lập hóa giai cấp tiểu tư sản”, “sử dụng giai cấp tư sản”; bồi dưỡng tinh thần kỷ luật mới. Cuộc đấu tranh giai cấp này diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cơ sở của nó là cuộc đấu tranh giữa hai phương thức sản xuất XHCN và TBCN, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trên mặt trận kinh tế.
       Về vấn đề liên minh công nông, Lê nin sớm nhận thấy khi bước vào thời kỳ quá độ, liên minh này cần tiếp tục tăng cường, giữ gìn trên cơ sở kinh tế, Vì vậy mà trong nội chiến cách mạng, để giữ lấy quyền sử dụng ruộng đất, nông dân sẵn sàng chấp nhận cả chính sách cộng sản thời chiến. Nhưng sau nội chiến, việc chuyển từ chính sách trưng thu lương thực thừa sang chính sách thuế lương thực và chuyển từ chính sách cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới nói chung về thực chất chính trị là nhằm củng cố liên minh công nông, tạo điều kiện cho nông nghiệp và công nghiệp phát triển, thực hiện giao lưu hàng hoá giữa thành thị và nông thôn, bảo đảm đời sống của công nhân và nông dân.
       Về vấn đề công nghiệp hoá XHCN, Lê nin luôn luôn nhấn mạnh vai trò then chốt của công nghiệp nặng với ngành cơ khí chế tạo máy làm “trung tâm thần kinh của toàn bộ nền công nghiệp”, Lê nin nhấn mạnh rằng cơ sở vật chất duy nhất của CNXH chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí, là điều kiện quyết định để tạo ra năng xuất lao động cao, là chuyển lao động thủ công thành lao đọng cơ khí hoá, là trang bị kỹ thuật mới không những cho công nghiệp mà còn cho tất cả các ngành khác của nền kinh tế quốc dân. Bởi vì “không có những công xưởng lớn như những  xưởng mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra, không có một nền đại công nghiệp tổ chức cao, thì không thể nói đến CNXH nói chung, mà lại càng không thể nói đến CNXH với một nước nông nghiệp được” (3). Cũng theo quan điểm của Người, công nghiệp hoá còn là một quá trình phát triển xã hội sâu sắc và toàn diện, quá trình phát triển giai cấp công nhân và cải tạo những người nông dân theo CNXH, quá trình xoá bỏ dần dần sự cách biệt giữa công nhân và nông dân, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn. Con đường để tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá XHCN là tích luỹ từ trong nội bộ nền kinh tế quốc dân, đồng thời tranh thủ vốn của nước ngoài thông qua sự hợp tác quốc tế.
         Về cách mạng văn hoá tư tưởng, Lê nin cho rằng nền văn hoá vô sản phải mang theo một chất lượng mới của một nền văn hoá tiên tiến, phù hợp với sứ mệnh lịch sử vĩ đại của giai cấp công nhân trong giai đoạn cách mạng mới. Song nền văn hoá ấy cũng là một sự kế tục, một sự chọn lọc và tiếp thu những giá trị cao đẹp của các nền văn hoá của nhân loại trong lịch sử.
      Theo Lê nin, việc nâng cao trình độ văn hoá chung của quần chúng sẽ tạo ra mảnh đất màu mỡ trên đó sẽ nảy nở những lực lượng mạnh mẽ vô cùng tận cho sự phát triển nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật. Thực tế như chúng ta đã thấy từ nước Nga Xô Viết: cách mạng XHCN đã được thực hiện ở một nước có trình độ phát triển trung bình của CNTB, sự tập chung công nghiệp cao, có đa số dân cư là nông dân, có những tàn dư sâu xa của chế độ phong kiến và thậm chí của những hình thái xã hội trước để lại. Tuy nhiên, nước Nga đã cống hiến cho thế giới những thành tựu hết sức vĩ đại trong lĩnh vực khoa học và văn hoá.
        Từ  hệ thống lý luận khoa học của Lê nin về thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, chúng ta có thể khái quát lại thành bốn đặc điểm chung như sau:
         Thứ nhất: thời kỳ quá độ là thời kỳ xét trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đều do nhiều thành phần không thuần nhất cấu tạo nên. Đó là thời kỳ có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa CNTB và CNXH.
         Thứ hai: đó là thời kỳ sự phát triển của cái cũ, của những trật tự cũ đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới, của trật tự mới.
         Thứ ba: đó là thời kỳ xét về mọi phương diện, đều có sự phát triển của tính tự phát tiểu tư sản, là thời kỳ chứa đựng mâu thuẫn không thể dung hoà được giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản và tính vô chính phủ của các tầng lớp tiểu tư sản. Lê nin cho rằng, tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù giấu mặt hết sức nguy hiểm và còn nguy hiểm hơn bọn phản cách mạng công khai. Mâu thuẫn giữa tính tự phát tiểu tư sản và tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản là một trong những đặc điểm nổi bật của “giai đoạn đặc biệt”, - giai đoạn quá độ.
         Thứ tư: đó là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn, phức tạp, phải trải qua nhiều lần thử nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những hướng đi đúng đắn. Trong quá trình thử nghiệm chúng ta sẽ gặp vô vàn thử thách và không ít sai lầm, khuyết điểm.
       Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang vững bước trên con đường đổi mới, CNH - HĐH với những thành tựu rực rỡ. Có được những thành tựu ấy chính là nhờ ở công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX đã sáng suốt lựa chọn và trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lê nin, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc trước kia, cũng như quá trình xây dựng CNXH, đi lên xã hội hiện đại ngày nay.
         Đảng ta khẳng định chúng ta hoàn toàn có khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Kinh nghiệm xây dựng CNXH mấy thập kỷ qua ở Việt Nam chứng tỏ rằng những nguyên lý của Lê nin về cách mạng XHCN có giá trị đối với tất cả các nước không kể ở trình độ phát triển nào.  Để quá độ đi lên CNXH trong điều kiện hiện nay, chúng ta phải: phát triền nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy mạnh CNH - HĐH; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế (4). Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về văn kiện Đại hội X của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trình bày ngày 18/4/2006, đã nêu một trong những bài học lớn rút ra từ kinh nghiệm 28 năm đổi mới, xây dựng CNXH: "Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh" (5),  đó là biểu hiện sinh động nhất sự kế thừa và phát huy sáng tạo tư tưởng vĩ đại của V.I. Lê nin vào điều kiện thực tiễn nước ta.
        Diễn tiến lịch sử dân tộc Việt Nam cận hiện đại cho thấy, mỗi khi đất nước đứng trước những khó khăn, thử thách lớn, Đảng ta luôn vững vàng, sáng suốt chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh sóng gió với điều kiện tiên quyết: trung thành tuyệt đối với mục tiêu lý tưởng chủ nghĩa Mác- Lê nin. Từ đó làm nên một Cách mạng tháng tám nặm 1945 với những giá trị to lớn, một chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động năm châu 1954, một Đại thắng mùa xuân mang ý nghĩa hoàn cầu năm 1975…đặc biệt là công cuộc đổi mới, CNH-HĐH đất nước đang bước sang năm thứ 21 với những thành tựu to lớn và toàn diện, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt kinh tế xã hội đất nước, tạo dựng hình ảnh tốt đẹp về CNXH cho bạn bè khắp năm châu. Qua thực tiễn qua 28 năm  đất nước đổi mới cho thấy chúng ta xây dựng CNXH không có nghĩa là triệt để phủ định cái cũ, mà phải vừa biết kết hợp giữa xây dựng cái  mới, vừa biết tận dụng và cải tạo cái cũ để thúc đẩy xây dựng nền kinh tế mới nhanh hơn, hiệu quả hơn. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lê nin về thời kỳ quá độ lên CNXH, trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã đồng thời phát huy sức mạnh nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu để xây dựng những năng lực sản xuất mới với trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một đường lối ngoại giao năng động, đa phương…nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH. Quá độ lên CNXH, chúng ta cần khắc phục sai lầm trước đây cho rằng cứ có quan hệ sản xuất XHCN là có CNXH, có sở hữu XHCN thì lực lượng sản xuất sẽ tự động phát triển, năng xuất lao động sẽ tăng nhanh mà không căn cứ vào trình độ hiện có của lực lượng sản xuất.    
       Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, thế kỷ XX và thập kỷ đầu thế kỷ XXI đã chứng minh thuyết phục rằng chủ nghĩa Mác - Lê nin nói chung và chủ nghĩa Lê nin nói riêng vẫn đầy sức sống. Nắm vững ngọn cờ của chủ nghĩa Lê nin, đập tan những luận điệu phản động của các thế lực thù địch, những người cộng sản chân chính sẽ đưa sự nghiệp của CNXH và CNCS phát triển lên những bước mới và đi tới đích cuối cùng.  
         Ngày 22/4/2014, nhân dân Nga và những người cộng sản trên toàn cầu kỷ niệm 144 năm ngày sinh V.I. Lê nin, nhà tư tưởng thiên tài, vị lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới. Tuy Lê nin đã đi xa, nhưng tư tưởng của Người sẽ còn sống mãi như lời chủ tịch Hồ Chí Minh “khi Người còn sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội” (5).    
 
* Chú thích:
        (1) V.I. Lê nin qua những hồi ký, đánh giá, nhận định, NXB Tiến Bộ, Mátxcơva, 1990, trang 105.
        (2) V.I. Lê nin toàn tập (bản tiếng việt), NXB Tiến Bộ, Mátxcơva, 1978, tập 44, trang 254.
        (3) V.I. Lê nin toàn tập (bản tiếng việt), NXB Tiến Bộ Mátxcơva 1978,tập 43, trang 367.
        (4) ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXBCTQG, Hà Nội, 2006, trang 18.
        (5)ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXBCTQG, Hà Nội, 2006, trang 19.
        (6)V.I. Lê nin qua những hồi ký, đánh giá, nhận định, NXB Tiến Bộ, Mátxcơva, 1990, trang 106.
        * Tài liệu tham khảo:
         1. Đỗ Tư, Tư tưởng chính trị của Lê nin từ cách mạng Nga đến cách mạng Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004.
         2. Lê Xuân Lựu, Chủ nghĩa Mác - Lê nin tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp của chúng ta, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005.
         3. Lê nin và thời đại của chúng ta, NXB Sự thật, Hà Nội, 1981.
         4. Viện Mác - Lê nin, Tư tưởng của Lê nin về thời kỳ quá độ, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987.
         5. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý cb, Những quan điểm cơ bản của C.Mác- Ph. Ăngghen-V.I. Lê nin về CNXH và thời kỳ quá độ.  NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

BỘ MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI 35 NĂM TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN


BỘ MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI  35 NĂM TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

                                                                                  Th.S Nguyễn Hữu Nghị CNBM
    
        Trong tiết trời se lạnh với cái nắng trong và nhẹ nhàng người ta dễ bắt gặp một cảm giác thật quen thuộc như đã được gọi tên từ rất lâu trong tiềm thức mỗi con người: mùa thu. Có nhà thơ đã từng nói: “mùa thu làm cho người gieo mầm trẻ mãi”, và với mỗi cán bộ, giảng viên khoa VHNN - những người đang ngày đêm cống hiến cho sự nghiệp “trồng người” góp phần đào tạo những sĩ quan chính trị tương lai của đất nước với một trái tim đầy nhiệt huyết và những ước mơ, hoài bão tuổi trẻ thì đây sẽ còn là một mùa thu thật đáng nhớ bởi gắn liền với những cảm xúc thật ấm áp mỗi độ thu sang ấy, chúng ta còn được sống trong không khí náo nức chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam của cán bộ, giảng viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ toàn Trường. Đặc biệt, là niềm vui hân hoan chào đón lễ kỷ niệm 5 năm ngày tái thành lập Trường Sĩ quan Chính trị nói chung và 35 năm thành lập khoa VHNN mà bộ môn KHXH là một thành viên.
        Ra đời cùng với ngày thành lập Khoa, các thế hệ giảng viên bộ môn KHXH rất tự hào rằng bộ môn KHXH đã đóng góp một phần không nhỏ trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Khoa suốt 35 năm qua dù trải qua không ít lần thay đổi tên gọi bộ môn cũng như tên Khoa.
-                   Từ năm 1976 đến năm 1978 giảng viên bộ môn dưới sự quản lý của Tổ Kiến thức văn hóa trực thuộc Ban Giám hiệu Trường SQCT. Đến ngày 12/11/1978 các giảng viên KHXH trực thuộc sự quản lý của khoa VHNN cùng với sự phát triển của Nhà trường.
-                   Năm 1980, bộ môn Văn học và bộ môn Lịch sử được thành lập (cùng các bộ môn Tự nhiên (Toán, Lý, Hóa), Tiếng Việt và Tiếng Anh thuộc Khoa Văn hóa, Trường Sĩ quan Chính trị
-                   Từ 1980 đến 1995, bộ môn Văn học và bộ môn Lịch sử thuộc Khoa Văn hóa Ngoại ngữ, Trường Sĩ quan Chính trị.
-                   Từ 1995 đến 1998, bộ môn Văn và bộ môn Sử - Địa thuộc khoa VHNN, Học viện Chính trị Quân sự .
-                   Từ năm 1998 đến năm 2001, bộ môn Văn, bộ môn Sử - Địa thuộc Khoa Văn hóa đại cương, Học viện Chính trị Quân sự.
-                   Từ năm 2001 đến tháng 11 năm 2008, bộ môn Văn và bộ môn Sử - Địa thuộc Khoa Khoa học cơ bản, Học viện Chính trị Quân sự.
-                   Từ tháng 11 năm 2008 đến nay là bộ môn KHXH (gồm các giảng viên giảng dạy Văn học, Lịch sử, Địa lý) thuộc Khoa VHNN Trường Sĩ quan Chính trị.
       Quá trình phát triển của Bộ môn 35 năm qua luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, chi bộ, lãnh đạo chỉ huy Khoa trên tất cả các mặt công tác: giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phát triển đảng, bồi dưỡng kết nạp quần chúng ưu tú vào đảng, động viên kịp thời những đồng chí gặp nhiều khó khăn trong công tác cũng như trong cuộc sống, đó là cơ sở để bộ môn đoàn kết,quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. 35 năm qua, Bộ môn đã nhiều lần được Nhà trường tặng giấy khen vì hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, nhiều cá nhân được Thủ trưởng Nhà trường tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở vì có nhiều thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm học như đồng chí Nguyễn Đắc Trục, Nguyễn Hữu Nghị, Nguyễn Kim Loan, Nguyễn Thị Huệ; nhiều đồng chí được tặng bằng khen, giấy khen của Thủ trưởng Tổng cục chính trị, thủ trưởng Nhà trường trong các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về quân đội, về Nhà trường, về Biển đảo, về tổ chức công đoàn, phụ nữ như các đồng chí Lê Thị Huyền (đạt giải Ba toàn quân cuộc thi tìm hiểu 60 năm nước CHXHCNVN), đồng chí Thiều Thị Minh (đạt giải Nhì toàn quân cuộc thi tìm hiểu 80 năm ngày thành lập HLHPNVN). Các đồng chí Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thế Hiệu, Nguyễn Thị Thủy có nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt công tác đóng góp vào thành tích của Bộ môn… Đồng chí Nguyễn Đắc Trục, Nguyễn Hữu Nghị nhiều năm liền tham gia huấn luyện đội tuyển Olimpic các môn khoa học Lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Nhà trường đi thi toàn quân đạt thứ hạng cao (năm 2001 đạt giải nhì toàn quân, năm 2002 đạt giải ba toàn quân, năm 2009 đạt giải nhất toàn quân, năm 2012 đạt giải nhì toàn quân). Ghi nhận những thành tích trên, Thủ trưởng Nhà trường đã tặng giấy khen cho Bộ môn vì đạt nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng 3 năm 2008 – 2011.   
       Tự hào từ những ngày đầu thành lập Tổ kiến thức văn hóa thuộc Trường SQCT tháng 1/1976 gồm 13 đồng chí, đã có 7 đồng chí giảng dạy các môn KHXH, trong 35 năm qua có 48 giảng viên đã và đang giảng dạy ở Bộ môn. Hiện tại, bộ môn có 10 giảng viên: 1 CNBM, 1 P.CNBM (6 giảng viên Lịch sử, 3 giảng viên Văn học và một giảng viên Địa lý). Về chất lượng đội ngũ: 100% tốt nghiệp đại học, có 6 thạc sĩ (trong đó có 1 đồng chí đang làm nghiên cứu sinh), một học viên cao học sắp bảo vệ và 3 đồng chí có trình độ cử nhân. Rất nhiều giảng viên bộ môn có năng lực chuyên môn vững vàng, là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chuyên môn mình đảm nhiệm như đồng chí Nguyễn Đắc Trục đã từng tập huấn cho toàn quân về giảng dạy môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Lịch sử dân tộc Việt Nam cho các học viện, nhà trường toàn quân, nhiều đồng chí là giảng viên dạy giỏi cấp Khoa, cấp Nhà trường nhiều năm liền như đồng chí Nguyễn Đắc Trục, đồng chí Nguyễn Hữu Nghị đạt danh hiệu giảng viên dạy giỏi chuyên ngành cấp Bộ trong hội thi Giảng viên giỏi các học viện, nhà trường toàn quân năm 2001 được tổ chức tại Trường Sĩ quan Lục quân 1, đồng chí Vũ Hồng Thủy, Nguyễn Kim Loan (đã nghỉ hưu) giảng viên giỏi cấp Khoa, Nhà trường.
       Trong công tác nghiên cứu khoa học, bộ môn thực sự phát huy thế mạnh của mình, nhiều đồng chí đã phát huy vai trò đầu tàu thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học của Khoa lên những tầm cao mới như đồng chí Nguyễn Đắc Trục, đồng chí Nguyễn Hữu Nghị, đồng chí Lê Duy Thắng có hàng chục bài báo đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành, những đồng chí Lê Thị Huyền, Nguyễn Bá Thanh, Vũ Đức Tho, Nguyễn Thị Thủy cũng đang từng bước khẳng định mình trên con đường nghiên cứu khoa học với những thành công bước đầu hết sức đáng khích lệ. Bên cạnh đó, những năm qua bộ môn đã tham gia nghiên cứu hàng loạt công trình có giá trị điển hình là: đề tài cấp Bộ Quốc Phòng “Xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ QĐNDVN trong giai đoạn cách mạng mới” năm 1990 – 1991; đề tài cấp Bộ tổng Tham mưu Giải pháp đổi mới biên soạn giáo trình, tài liệu ở Trường SQCT” với vai trò tham gia của đồng chí Nguyễn Đắc Trục; Biên soạn tài liệu cho Tổng cục Chính trị năm 1990 “Một số vấn đề về Lịch sử dân tộc Việt Nam”, “Một số vấn đề về Lịch sử văn hóa Việt Nam” do đồng chí Nguyễn Đắc Trục làm chủ biên”; “Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho học viên Sĩ quan Chính trị cấp phân đội tại HVCTQS” năm 2001 do đồng chí Nguyễn Đắc Trục làm chủ nhiệm đề tài; “Những giải pháp nâng cao kỹ năng nói - viết – giao tiếp cho HVSQCT cấp phân đội” năm 2002 do đồng chí Vũ Hồng Thủy làm củ nhiệm đề tài; Đổi mới phương pháp dạy học môn LSDTVN trong đào tạo SQCT quân sự cấp phân đội” năm 2006 do đồng chí Nguyễn Hữu Nghị làm chủ nhiệm đề tài; “Nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý chính trị cho đối tượng đào tạo Chính trị viên” năm 2008 do đồng chí Nguyễn Hữu Nghị làm chủ nhiệm đề tài, “Giáo trình Địa lý chính trị” năm 2012 do đồng chí Nguyễn Đắc Trục làm chủ biên…cùng các Tập bài giảng Văn học 2003, Tập bài giảng Lịch sử dân tộc 2005, Tập tài liệu tham khảo Văn học 2003,  do Bộ môn thực hiện...
        Về đối tượng giảng dạy: Bộ môn tham gia gảng dạy cho tất cả các đối tượng học viên trong toàn Trường: CT, CM, BT, GV, GVQPAN, TS, VB2, Hoàn thiện đại học, đào tạo quốc tế, tham gia đào tạo liên kết tại Trường Sĩ quan lục quân 2, Quân khu VII, Học viện Biên phòng.
       Nội dung các học phần giảng dạy của bộ môn:
1.           Văn học (gồm cả Văn học Việt Nam và Văn học nước ngoài)
2.           Lý luận văn học
3.           Lịch sử dân tộc Việt Nam
4.           Lịch sử văn minh thế giới
5.           Cơ sở văn hóa Việt Nam
6.           Lịch sử Đông Nam Á
7.           Địa lý chính trị
Những đồng chí Chủ nhiệm bộ môn KHXH qua các thời kỳ
* Bộ môn Văn học:
- Đồng chí Hoàng Mạnh Kính: 1978 – 1983
- Đồng chí Hoàng Viết Đích: 1983 – 1995
- Đồng chí Vũ Thị Hồng Thủy: 2000 - 2008
- Đồng chí Nguyễn Kim Loan: 2008
* Bộ môn Lịch sử - Địa lý
- Đồng chí Hoàng Đình Sá: 1978 – 1980
- Đồng chí Phạm Văn Mai: 1980 – 1983
- Đồng chí Phan Văn Lượng: 1983 – 1985
- Đồng chí Nguyễn Văn Hữu: 1985 – 1988
- Đồng chí Nguyễn Đắc Trục: 1988 – 2000 ( Từ 1995 – 2000 là tổ Văn – Sử - Địa)
- Từ năm 2000 – 2005: đồng chí Nguyễn Đắc Trục được bổ nhiệm P.CNK kiêm CNBM Lịch sử - Địa lý)
- Đồng chí Nguyễn Hữu Nghị 2006 – 2008
* Bộ môn KHXH: từ năm 2008 (Trên cơ sở sáp nhập từ bộ môn Văn học và bộ Môn Lịch sử - Địa lý)
- Đồng chí Nguyễn Hữu Nghị: từ 2008 đến nay
        Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, Phát huy truyền thống 35 năm qua, Bộ môn KHXH khoa VHNN dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Khoa VHNN tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ, đổi mới chương trình theo sự chỉ đạo của Nhà trường, đẩy mạnh đổi mới phương pháp, tăng cường làm chủ, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Trong tương lai để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của Nhà trường trong giai đoạn mới, Bộ môn phấn đấu 100% giảng viên có trình độ sau đại học, có từ 2 – 3 Tiến sĩ, nâng cao trình độ lý luận Văn học, phương pháp luận Sử học cũng như trình độ ngoại ngữ, tin học để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Nhà trường, Khoa giao phó, góp phần xây dựng Khoa VHNN ngày càng vững mạnh. Ôn lại truyền thống trưởng thành và phát triển 35 năm của Khoa, các giảng viên trẻ thế hệ 8X của bộ môn và Khoa tự hào mãi mãi ghi nhớ công ơn của những thế hệ giảng viên lớp trước, nguyện sẽ mang hết tài năng, tâm huyết và sức trẻ xây dựng khoa vững mạnh toàn diện, mãi tự hào với thương hiệu Khoa Văn hóa Ngoại ngữ Trường Sĩ quan Chính trị thân yêu.