Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

NÓI PHẢI CỦ CẢI PHẢI NGHE

T/G: Nguyễn Hữu Nghị

          Cuối tháng 8/2015 chúng ta đều biêt một bộ phận dân tộc cực đoan người Cam Pu chia đã tổ chức gây rối trên biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia với luận diệu cũ rích "ở đâu có cây Thốt Nốt ở đó là đất của người Cam Pu Chia". Thế nhưng khi xem bản đồ phân định lãnh thổ Việt Nam và CPC do Liên Hợp Quốc cung cấp và bản đồ do Chính phủ Pháp cung cấp thì biên giới thực tế giữa 2 nước rất rõ ràng, không có chuyện Việt Nam lấn đất của CPC, Chính phủ CPC cũng khẳng định chính kiến và tính pháp lý của 2 tấm bản đồ ấy.
        Giữa một thế giới luôn khao khát hòa bình, một khu vực luôn mong muốn sự ổn định nhưng vẫn có những kẻ dù có trình độ, học thức lại đi ngược lại lợi ích nhân dân, dân tộc - và ở quốc gia nào cũng tồn tại đối tượng này. Là nước láng giềng cùng chung các yếu tố lịch sử, văn hóa, vận mệnh, đáng nhẽ các trí thức phải góp phần củng cố mối quan hệ truyền thống nhân dân 2 nước thì một bộ phận cực đoan người CPC lại làm điều ngược lại với động cơ, mục đích đê hèn, và họ là ai? là một số Nghị sĩ của Đảng cứu quốc CPC (CNRP), chúng kích động, kêu gào xóa bỏ Hiệp định 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 đã được ký kết giữa Việt Nam và CPC.
       Nói Việt Nam lấn đất của CPC ư? bài này cũ rích rồi, là người có học thức hẳn họ đều biết đến Vương Quốc Phù Nam và Vương Quốc Ăng Ko. Trong lịch sử, hai vương quốc này ra đời từ thên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên, một sự thật hiển nhiên 2 quốc gia này cùng song song tồn tại với 2 chính quyền, 2 đất nước, 2 thủ đô...(Phù Nam ra đời ở thế kỷ thứ I và kết thúc ở thế kỷ thứ VII trong khi Ăng Ko ra đời vào thế kỷ thứ VI) nhưng đã có một số học giả, nhà nghiên cứu CPC cho rằng Phù Nam là giai đoạn đầu của Ăng Ko để tìm cách biện luận vùng đất Nam bộ là của CPC, nếu biết rằng ở thời kỳ đỉnh cao của Đế chế Phù Nam nó đã thần phục 10 tiểu vương quốc khác và mở rộng lãnh thổ bao trùm toàn bộ lãnh thổ CPC, Thái Lan và bán đảo Ma Lắc Ca thi theo sự biện luận của họ lãnh thổ Việt Nam giờ đây bao gồm cả những vùng đất ấy thì họ nghĩ sao đây?
     Hãy sử sự như là những người có văn hóa trong một thế giới mở, muốn người khác tôn trọng mình thì hãy tôn trọng họ trước đi!
      

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

THƠ - CHA VÀ CON

                                                                                      Nguyễn Hữu Nghị
                                                     Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ

Con hỏi cha: Là bộ đội sao cha làm thầy giáo?
Dạy lịch sử nước nhà và trên khắp hành tinh
Con vẫn nghĩ nghề của cha là binh đao, trận mạc
Đánh đuổi quân thù bảo vệ quê hương
Không đâu con - người "Anh Cả" quân đội ta là thầy dạy sử
Đất nước có chiến tranh, Ông trở thành vị tướng
Khiến quân thù phách lạc, hồn siêu
Thế giới này phải nghiêng mình kính phục!
Từ "Điện Biên" năm xưa chấn động địa cầu,
                                                          đến "Mùa Xuân đại thắng"
Đất nước thanh bình lại viết tiếp những chiến công
Nếu hôm nay trong bài giảng của cha
Không giữ gìn từng trang sử nước
Không thắp sáng niềm tự hào dân tộc

Thì hỏi rằng: Tổ quốc có còn chăng?

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

THIÊNG LIÊNG CON LẠC CHÁU HỒNG

                                                                                       Nguyễn Hữu Nghị

       "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi", ai là con dân đất việt mà chẳng thấu hiểu câu nói đó của Bác Hồ. Dân tộc Việt Nam hình thành sớm, ý thức đoàn kết cùng chung lưng đấu cật đấu tranh chống ngoại xâm, chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển, xây dựng nên những nền văn hóa, văn minh phát triển rực rỡ. Để non sông gấm vóc có hòa bình, thống nhất, ấm no như ngày hôm nay có một sự đóng góp to lớn của các dân tộc thiểu số anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
       Từ thế kỷ XI trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 chúng ta còn nhớ tới những vị thủ lĩnh miền biên viễn như Vi Thủ An, Thân Cảnh Phúc, Tông Đản đã cùng đồng bào dân tộc thiểu số góp bao xương máu để bảo vệ từng tấc đất, từng thước núi của non sông. Rồi đến 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông có ai quên được những vị tù trưởng Hà Bổng, Hà Đạt cùng các nghĩa binh của mình sẵn sàng xông pha nơi hòn tên mũi đạn tiêu diệt quân thù. Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn thế kỷ XVII với sự tham gia đông đảo của đồng bào Chăm, đồng bào Thượng, đồng bào Khme để 5 vạn quân Xiêm cùng 29 vạn quân Thanh phải bạt vía kinh hồn. Thế kỷ XX trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đồng bào dân tộc thiểu số từ Tây Bắc đến Việt Bắc, Từ Tây Nguyên đến Nam bộ luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ, theo cách mạng, ủng hộ biết bao sức người, sức của, lương thực, thực phẩm…hình ảnh anh hùng Núp và làng Kông Hoa kiên cường chống Pháp, rồi những vị thủ lĩnh người dân tộc thiểu số Pi Năng Tắc, Pi Năng Thạch là những biểu tượng sáng ngời về ý thức Việt, dân tộc Việt cùng một cội nguồn, cùng một tổ tiên.
       Ngày nay, trong độc lập, hòa bình các dân tộc cùng bình đẳng dựng xây đất nước, bao thôn bản ấm no, với trường học, trạm xá, đường giao thông khang trang thuận tiện, bao cán bộ (và không ít cán bộ nữ) người dân tộc thiểu số giữ chức trách cương vị khác nhau từ trung ương đến địa phương thể hiện sự chăm lo, quan tâm của Đảng với đồng bào dân tộc thiểu số. tỉnh nào, huyện nào có đồng bào dân tộc là có trường dân tộc nội trú. Còn trung ương có 2 trường dự bị dân tộc là nơi tạo nguồn sinh viên cho các trường đại học từ con em đồng bào dân tộc thiểu số - nguồn cán bộ tương lai của đất nước.
      Đó là thực tiễn sống động trên khắp các vùng miền của đất nước ta, ấy vậy mà ở nơi này, nơi khác vẫn luôn có những tiếng nói lạc điệu, sẵn sàng đổi trắng thay đen vì những động cơ đê hèn thậm chí vì những đồng tiền bẩn thỉu sẵn sàng bán lương tâm cho quỷ dữ, lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin phát tán tài liệu phản động, viết những tin bài bóp méo trắng trợn sự thật và viết một cách ngây ngô đến những đứa trẻ cũng không thể tin được, như tác giả lấy tên Ama Thanh trong bài viết Bao giờ thì hết phân biệt với người thiểu số? ngày 1/10/2011 ở blog danlambao.vn………..viết rằng: khi người Kinh và người dân tộc thiểu số vào bệnh viện thì người Kinh sẽ được ưu tiên chữa trị, nếu vậy Nhà nước có cần xây trạm xá, có cần tăng cường y bác sĩ về thôn bản không? Nhất là những địa phương có 100% đồng bào thiểu số sinh sống? Ama Thanh viết tiếp: tiền từ người thân của đồng bào dân tộc thiểu số gửi từ nước ngoài về họ không nhận được, vì công an không cho nhận và công an lấy mất. Điều này thật lố bịch và hài hước vì tác giả chỉ viết vu vơ từ động cơ cá nhân của mình mà không đưa ra được dẫn chứng cụ thể: ai, ở đâu, khi nào bị gây khó dễ khi đi nhận tiền gửi từ nước ngoài về. Từ thực tế chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để lượng kiều hối từ nước ngoài chuyển về góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho đất nước.
       Lố bịch hơn nữa, Ama Thanh viết: Chuyn đi nhà th người Kinh thì đi nhà th ch nào cũng được nhưng người dân tc t buôn này mà đi nhà th buôn khác công an biết được là bt pht tin. Nhiu buôn không có nhà th phi lén lén mi đi nhà th được. Đi v tht khuya sm thì không b công an bt được.  Chuyn đi thăm bà con h hàng: không biết người Kinh thì sao ch người dân tc mun t Daklak qua bên Daknong thì phi có giy đi đường ca công an huyn thì mi được đi thăm
       Với chính sách tự do tôn giáo, mọi tôn giáo, tín ngưỡng đều được tôn trọng và bình đẳng, biết bao phái đoàn nhân quyền đến Việt Nam, đến với những nơi họ cho rằng "có vấn đề về tôn giáo" thì họ cũng phải thừa nhận trước công luận thế giới Việt Nam là một nước tự do tôn giáo! Còn chuyện đi lai, thăm bà con họ hàng, nếu là người Việt Nam thì dù là ai, thuộc dân tộc nào cũng có thể đi khắp đất nước, đó là điều hiển nhiên như không khí dùng để thở vậy. Mỗi một ngày biết bao nhiêu triệu người Việt Nam đi lại khắp đất nước, và không ít trong số họ là đồng bào dân tộc thiểu số, vậy phải cần bao nhiêu công an để kiểm tra giấy đi đường hả ông Ama Thanh?
      Nếu không có khối đại đoàn kết dân tộc, nhân dân ta đã không thể vượt qua bao thử thách và biến thế kỷ XX của mình thành huyền thoại, và giờ đây chúng ta luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Tuy nhiên các thế lực thù địch phản động đã và đang lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta thông qua Diễn biến hòa bình, nhưng trong lịch sử chúng đã từng thất bại thông qua cái gọi là Xứ Mường tự trị, Xứ Thái tự trị, Người Thượng tự trị…thì giờ đây với chiêu bài cũ chúng những hòng lập ra nhà nước Tin lành Vàng Chứ, Tin Lành Đề Ga, Khme Crom…cũng chỉ là đi theo vết xe đổ quá khứ mà thôi.

      Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” của các thế lực thù địch phản động không phải là mới nhưng chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và sự thật vẫn là sự thật, bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt. Ý thức chung một cội nguồn, chung một tổ tiên luôn là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam!

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975: MỘT DÂN TỘC, MỘT Ý CHÍ, MỘT KHÁT VỌNG

                                            2//, Th.S Nguyễn Hữu Nghị
                                          PCN Khoa VHNN

        Trên thế giới có biết bao dân tộc nhưng chắc sẽ không có nhiều dân tộc như dân tộc Việt Nam, quá trình dựng nước, mở mang bờ cõi luôn gắn liền với quá trình chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất qua mấy ngàn năm lịch sử. Đất mẹ yêu thương đã bao lần chứng kiến sự phân ly, cát cứ: hàng ngàn năm Bắc thuộc biến nước ta thành các châu, quận của đế chế phương Bắc với âm mưu đồng hóa, đến thời phong kiến Trịnh - Nguyễn phân tranh đất nước cũng chia cắt ngót 200 năm Đàng ngoài và Đàng trong vì quyền lợi của các tập đoàn phong kiến cát cứ với giới tuyến sông Gianh. Thời cận hiện đại, hết thực dân Pháp xâm lược chia cắt đất nước ta thành ba kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau, lại đến đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược, chia cắt đất nước để cả dân tộc ta lại đứng lên tiến hành cuộc trường chinh lịch sử qua 21 năm kháng chiến.
        Nhìn lại tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta thấy một đặc điểm nổi trội: xu thế thống nhất luôn thắng thế xu hướng phân tán và ý thức nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một không bao giờ thay đổi. Vậy sức mạnh nào, ý chí nào đã đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao sóng gió, thác ghềnh để cùng sánh vai tiến bước cùng nhân loại? Đó là ý chí bất khuất của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ cam chịu làm nô nệ, là khát vọng "không có gì quý hơn độc lập, tự do" để làm nên những huyền thoại.
       Hành trình từ Cách mạng Tháng tám đến Đại thắng Mùa xuân 1975 là một trong những minh chứng sinh động nhất cho khát vọng tự do, thống nhất của dân tộc Việt Nam về chủ quyền, độc lập, tự do, là quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền của cách mạng Việt Nam mà Cách mạng Tháng tám đã xác lập. Lê nin, vị lãnh tụ thiên tài của phong trào cộng sản thế giới đã từng nói "giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều". Khi Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng tám được một Đảng còn noi trẻ mới 15 tuổi dẫn dắt thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - nhà nước công nông đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á thì một số nhà sử học tư sản phương Tây với góc nhìn thiển cận cho rằng đó là một cuộc cách mạng ăn may, chúng ta không có sức mạnh, không dựa vào quần chúng nhân dân, rằng chúng ta giành chính quyền khi phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh, thực dân Pháp chưa kịp ngóc đầu dậy, quân đồng minh chưa kịp vào, chính quyền tay sai đang hoang mang, dao động…và cứ thế Việt Minh giành lấy chính quyền. Nếu không có sức mạnh, không có ý chí, không có đoàn kết toàn dân tộc chúng ta có thể giữ được nền độc lập ấy không? Hành trình 30 năm bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng tám 1945 - 1975 với biết bao sức người, sức của, biết bao xương máu của những liệt sĩ anh hùng, những bà mẹ việt nam anh hùng thể hiện cho ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam.
        Từ mùa thu Tháng tám lịch sử, sau gần một thế kỷ chìm đắm trong nô lệ dưới ách xâm lược của thực dân Pháp, khi thời cơ cách mạng chín muồi thì quyết tâm của Đảng, của toàn thể dân tộc ta: "dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập", với quyết tâm: "chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Khát vọng tự do của cả dân tộc đã trở thành hiện thực, tuy nhiên hành trình bảo vệ thành quả độc lập, tự do ấy đã sớm phải đối mặt với những thách thức to lớn khi thực dân Pháp chưa từ bỏ dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, hòng dùng sức mạnh quân sự khuất phục dân tộc ta.
       Là dân tộc yêu chuộng hòa bình, chúng ta đã tìm mọi cơ hội để đưa đất nước thoát khỏi cảnh chiến tranh chống xâm lược, thể hiện thiện chí xây dựng nền hòa bình, quan hệ hòa hiếu với chính kẻ đã xâm lược chúng ta - thực dân Pháp. Thiện chí ấy đã bị đáp lại bằng chính sách ngoại giao pháo hạm, chủ nghĩa sen đầm quốc tế. Từ xuất phát điểm thực trạng đất nước những năm 1945, 1946 với nạn đói, nạn dốt trầm trọng, thù trong giặc ngoài, tài chính trống rỗng, chính quyền, quân đội non trẻ, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp với niềm tin vào ý chí và sức mạnh tinh thần tuyệt đối cùng lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Nay tuy châu chấu đá voi
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra
         Chín năm kháng chiến chống Pháp với thế trận chiến tranh nhân dân, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, dân tộc ta đi từ chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 đến chiến thắng Biên giới 1950 và đặc biệt là chiến thắng Điện Phủ chấn động năm châu, rung động địa cầu đã chứng minh cho khát vọng tự do, sức mạnh đoàn kết và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam dù chúng ta phải đổ biết bao xương máu. Thành quả của Cách mạng Tháng tám, năng lực giành và giữ chính quyền của Đảng, nhân dân ta đã từng bước được khẳng định cho dù mới giải phóng được một nửa đất nước.
       Bài học thất bại cay đắng của thực dân Pháp đã không đủ để ngăn trở tham vọng bá chủ thế giới của đế quốc Mỹ, thành quả của Cách mạng Tháng tám lại đứng trước thử thách lớn lao khi Mỹ can thiệp và nhảy vào miền Nam Việt Nam: 5 đời tổng thống Mỹ, 4 chiến lược chiến tranh, tiêu tốn 676 tỉ USD, hơn 7 triệu tấn bom đạn đã trút xuống Việt Nam (bằng 3 lần số bom đạn Mỹ dùng trong chiến tranh thế giới thứ II, 12 lần Mỹ dùng trong chiến tranh Triều Tiên) cùng hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ đã trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam với những vũ khí tối tân, hiện đại nhất thế giới nhưng đế quốc Mỹ đã đánh giá sai lầm về sức mạnh, tinh thần đoàn kết và ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta đã phải đương đầu với một cuộc chiến tranh dài ngày nhất, ác liệt nhất, dã man nhất trong lịch sử dân tộc. Đây cũng chính là thời khắc chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy cao độ, Việt Nam là đỉnh cao đại diện cho lương tri hòa bình của cách mạng thế giới chống lại thế lực đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đó đã lay động, thức tỉnh lương tri toàn thể nhân loại tiến bộ để rồi biết bao thanh niên thế giới mang một ước mơ cháy bỏng "sau một giấc ngủ tỉnh dậy trở thành người Việt Nam", và rằng "ở Việt Nam, ra ngõ là gặp anh hùng".
       Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khát vọng độc lập, tự do là động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc cả dân tộc đứng lên chiến đấu  với ý chí sắt đá và quyết tâm không gì lay chuyển được "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do"[1]
       Cuộc trường chinh hùng tráng của dân tộc đã kết thúc ở Mùa xuân toàn thắng, lịch sử dân tộc Việt Nam 1945 - 1975 đã khẳng định hoàn toàn chúng ta đủ khả năng, đủ sức mạnh giành và giữ chính quyền. Như lời khẳng định của cố Tổng bí thư Trường Chinh: Đó là thắng lợi to lớn, toàn diện và triệt để của 30 năm chiến tranh giải phóng, một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc ta. Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự kế tục và phát triển cao độ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng tám và của cuộc kháng chiến chống Pháp, là thắng lợi triệt để của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh quyết liệt để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước ta. .
       30 năm hành trình qua 2 cuộc kháng chiến và kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 chính là biểu hiện sinh động sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân từ Nam chí Bắc, từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến rừng núi, bao gồm mọi giai cấp cách mạng, mọi tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng. Với sức mạnh đoàn kết ấy, dân tộc ta đã bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng tám năm 1945, dân tộc ta đã đập tan mọi lực lượng của kẻ thù, quét sạch cả bọn cướp nước và bọn bán nước, giải phóng hoàn toàn Tổ quốc thân yêu.
       30 năm đấu tranh bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng tám chính là sự tiếp nối chủ nghĩa yêu nước được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oanh liệt. 40 năm đã trôi qua kể từ Đại thắng mùa Xuân 1975, từ thành quả độc lập, tự do, non sông gấm vóc thống nhất mà biết bao xương máu cha anh đã đổ xuống, dân tộc ta bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập sâu rộng, toàn diện với khu vực và thế giới. Đặc biệt, qua 30 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội đất nước thay đổi toàn diện với những thành quả to lớn. Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, niềm tin tưởng, hy vọng của nhân dân tiếp tục được củng cố, tăng cường cho dù thời gian qua các thế lực thù địch bằng thủ đoạn "diễn biến hòa bình" ra sức chống phá cách mạng nước ta cũng như hành động khiêu khích, vi phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ nước ta của Trung Quốc hồi tháng 5 năm 2014 khi hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển nước ta gây ra những thách thức về phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, chủ quyền quốc gia, nhưng với truyền thống lịch sử cha ông và tinh thần của mùa Xuân đại thắng, nhân dân Việt Nam vẫn vững tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp đổi mới, với những thành tựu to lớn và vững chắc hơn. Đảng sẽ đem đến cho dân tộc những "mùa đại thắng" trong sự nghiệp xây dựng đất nước tương lai.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 108

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC KHOA GIÁO VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                Tác giả: Nguyễn Hữu Nghị
Trong bối cảnh tình hình thế giới những năm qua diễn biến hết sức phức tạp, khó lường:  xung đột khu vực vẫn diễn ra gay gắt ở nhiều nơi, chủ nghĩa khủng bố thách thức an ninh toàn cầu, sự  xuất hiện và tàn bạo của nhà nước Hồi giáo tự xưng IS, còn ở Việt Nam các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và “xâm lăng văn hoá” nhằm xoá bỏ chế độ XHCN và bản sắc văn hoá Việt Nam, đặc biệt trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước ra sức xuyên tạc, phủ định, hòng xoá bỏ Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng huy động tối đa phương tiện thông tin đại chúng lợi dụng những sự kiện lớn của đất nước và một số hạn chế, yếu kém của ta trong quản lý, điều hành để xuyên tạc, quy chụp, kích động, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội, công an và nhân dân (như những vụ án tham nhũng, xét xử oan sai lớn những năm qua).
Trên lĩnh vực báo chí, xuất bản: Lợi dụng công nghệ thông tin để tuyên truyền, phát tán các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung xấu; truyền bá những quan điểm sai trái làm nóng lên những vấn đề của đất nước, tạo bức xúc, nghi ngờ, kích động gây rối, bạo loạn, lật đổ (như vấn đề thư ngỏ của nhóm 61; khối tài sản khổng lồ của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Xuân Truyền, vấn đề Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 xuống vùng đặc quyền kinh tế của nước ta).
Các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền cho cái gọi là tự do, dân chủ ở phương Tây. Vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo: Mỹ và phương tây cũng như một số tổ chức quốc tế có những ủng hộ, kích động những hành động chống đối của những đối tượng cơ hội chính trị nhằm khuyến khích tư tưởng ly khai, xây dựng lực lượng đối trọng với chính quyền.
Trước sự nguy hiểm khôn lường từ chiến lược “diễn biến hoà bình” của cá thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá và những âm mưu, thủ đoạn của chúng,  Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường cùng cơ quan Phòng Chính trị đã nhanh chóng thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo toàn Trường thực hiện công tác phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá quyết liệt và hiệu quả, đặc biệt là vai trò của các khoa giáo viên. Các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân đội về công tác chống diễn biến hòa bình được cập nhật, quán triệt kịp thời tới các đầu mối trực thuộc Nhà trường. Trên cơ sở đó, các đầu mối trực thuộc nhanh chóng xây dựng kế hoạch đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của đơn vị mình theo Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương và Kế hoạch số 466-KH/ĐU của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Kế hoạch số 1521 - KH/ĐU ngày 05/10/2009 của Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị. Trên cơ sở đó, chủ động tổ chức tốt việc giáo dục, quán triệt và triển khai cho các lực lượng thực hiện nghiêm túc.
Các khoa giáo viên đã tổ chức giáo dục, quán triệt nghiêm túc, có chất lượng đến 100% cán bộ, giảng viên, nhân viên khoa mình toàn văn “ Đề cương tuyên truyền Chỉ thị 34 - CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” do vậy đã nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên về âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá; kết quả đấu tranh của ta thời gian qua và quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, các giải pháp để chống lại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới.
Các khoa giáo viên xây dựng và triển khai kế hoạch đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"  phù hợp với đặc điểm, tính chất, nhiệm vụ như viết bài, gửi đăng báo, tạp chí, tham gia Blogger, tuyên truyền cho đối tượng học viên qua các bài giảng ở trên lớp…một cách thiết thực, hiệu quả. Bên cạnh đó, đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các khoa luôn đặc biệt quan tâm tới công tác chính trị, tư tưởng, từ đó bồi dưỡng ý chí kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đội ngũ giảng viên.
Trong các buổi sinh hoạt khoa, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt các tổ chức quần chúng, công tác chống diễn biến hòa bình luôn được lồng ghép để tuyên truyền hiệu quả, gắn trách nhiệm của người đảng viên, giảng viên trong quá trình lên lớp cần tuyên truyền có hiệu quả  công tác đấu tranh phòng chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa tới đối tượng học viên. Đội ngũ giảng viên thực sự là những tấm gương chấp hành và thực hiện tốt Quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, không để lộ, lọt thông tin quân sự ra bên ngoài.
Các Khoa giáo viên triển khai thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chú trọng khâu “làm theo”, "nêu gương" bằng các tiêu chí cụ thể, thiết thực nhằm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng yêu thương con người, lối sống trung thực, giản dị, cần kiệm, liêm chính, đề cao ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ; qua đó tạo nền tảng chính trị tinh thần phòng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng.
           Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, “Phi chính trị hóa quân đội”.
          Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa còn có những hạn chế cần khắc phục:
         Do nhiệm vụ chuyên môn chi phối thời gian lên công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, họat động "diễn biến hòa bình"  ở các khoa giáo viên có những thời điểm chững lại; nội dung, hình thức chưa phong phú. (chủ yếu là một số đồng chí tham gia lực lượng blogger Nhà trường tích cực viết bài đấu tranh).
Công tác tuyên truyền nhận thức và đấu tranh chống diễn biến hòa bình thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp ở một số khoa hạn chế do đặc thù nội dung môn học (như các khoa Bắn súng, Quân Sự, Giáo dục thể chất).
Trong thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch sẽ vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, văn hoá. chúng coi đây là vấn đề tập trung chống phá - nhất là trong thời điểm Đảng ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII. Vì vậy, việc phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá ở Nhà trường nói chung, ở các khoa nói  riêng cần thực hiện tốt một số nội dung và giải pháp sau:
Thường xuyên kiện toàn Ban chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá các cấp.
          Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Nhà trường; đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong đơn vị; giữ vững và tăng cuờng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
          Nắm chắc tư tưởng đội ngũ giảng viên, không để bị bất ngờ về tư tưởng.
          Đẩy mạnh triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đi sâu vào hiệu quả thực chất.
          Xây dựng khối đoàn kết vững  chắc trong Nhà trường, nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật của quân đội, các quy định của Nhà trường của đội ngũ giảng viên và các đối tượng khác trong toàn Trường, không để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động ảnh hưởng đến đơn vị; chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”. Đẩy mạnh công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật ở các đơn vị.

          Phát huy thế mạnh là một trung tâm khoa học xã hội nhân văn của quân đội, đội ngũ giảng viên Nhà trường đã và đang phát huy vai trò tiên phong trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình. Thông  qua hoạt động giảng bài trên lớp tuyên truyền, lồng ghép nội dung chống diễn biến hòa bình tới đối tượng học viên một cách thiết thực, hiệu quả. Phát huy trí tuệ nguồn nhân lực đấu tranh qua blogger, tạo thành một làn sóng đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa mạnh mẽ, lan tỏa rộng khắp. Qua đó góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị của đất nước.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

GỬI NHÓM "THƯ NGỎ 61"

      Người Việt Nam có câu "ăn cây nào, rào cây ấy", với người dân lao động ít có điều kiện học hành, giao lưu là một nhẽ, đằng này các ông được tiếng là những người có học sao lai có cách hành xử chưa khỏi vòng đã cong đuôi như vậy? các ông ăn cơm gạo từ đâu?
 tổ tiên, nguồn cội của các ông là ai? các ông đã thuyết giảng đạo đức cho bao nhiêu người để rồi vì cái gì mà các ông lại xúm nhau vào nói xấu Đảng, xuyên tạc công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta ngày nay?
      Các ông nói Đảng CSVN dẫn dắt dân tộc đi theo con đường sai lầm, vậy là người Việt Nam các ông hẳn còn nhớ và nhớ rất rõ khi đất nước bị thực dân phương Tây xâm lược, dày xéo từ giữa thế kỷ XIX thì ngọn cờ phong kiến và ngọn cờ tư sản đã bất lực, bế tắc như thế nào? và chỉ có con đường nào mới có thể đưa chúng ta đến độc lập, tự do thưa các ông?
     Không nói các ông cũng biết, chúng ta đi theo con đường CNXH nhưng đầy tính sáng tạo, vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của đất nước, chúng ta đủ tỉnh táo để lựa chon con đường cho mình khi đi lên xã hội hiện đại.
     Trung thành với nguyên lý Chủ nghĩa Mác - Lê nin nhưng trong vận động giải phóng dân tộc chúng ta đâu có áp dụng máy móc lý thuyết là phải chờ cách mạng chính quốc thành công mới làm cách mạng thuộc địa. Đến năm 1954 chúng ta đã quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội khi một nửa đất nước còn chưa được giải phóng, trên thế giới có tiền lệ nào chưa thưa các ông nhóm 61?
     Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một con đường dài, đầy khó khăn, chông gai, thử thách và sẽ không tránh khỏi sai lầm nhưng đừng vì thế mà sổ toẹt, mà phủ nhận những thành quả to lớn mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được.
     Những luận điệu các ông đưa ra cũng không có gì là mới cả, cũng chỉ là hùa theo các thế lực phản động chống  phá cách mạng nước ta hòng bôi xấu Đảng trước  kỳ đại hội tới. Những trò lố của các ông không đảng viên chân chính nào ko nhận ra cả, hy vọng các ông là con dân nước Việt hãy giữ lấy chút liêm sỉ để con cháu các ông co thể ngẩng mặt mà sống với đời!
                                                               Nguyễn Hữu Nghị

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – TÀI SẢN TINH THẦN VÔ GIÁ, MÃI MÃI SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI



                                                    Trung tá, Th.S  Nguyễn Hữu Nghị
                                                     PCN khoa Văn hoá - Ngoại ngữ, Trường SQCT
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một bản Di chúc vô cùng quý báu. Di chúc được công bố ngay sau khi Bác qua đời và trở thành một nguồn cổ vũ động viên lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước và đưa nước nhà vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Di chúc của Người là tài sản vô giá, là sự đúc kết những giá trị tư tưởng lớn lao, là ánh sáng diệu kỳ khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, mãi mãi soi sáng và định hướng đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam phải đi và phải đến tới vinh quang và thắng lợi của dân tộc ta, Đảng ta.
          Trong suốt cuộc đời hoạt động, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, cống hiến vĩ đại cho dân tộc ta cho cả loài người như vậy mà ở Bác “Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[1]. Chẳng những thế Người còn căn dặn chúng ta chớ nên “điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân”[2]. Bác còn để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn Đảng, toàn dân, toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng trong nước và quốc tế. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông quá, ôm cả non sông trọn kiếp người”. Cao cả biết bao tấm lòng vì dân, vì nước của Bác, đúng đắn biết bao quan điểm và phương pháp công tác quần chúng của Bác, và cũng thật là vĩ đại biết bao, niềm tin của Bác đối với chúng ta. Có niềm tin ấy, có quan điểm và phương pháp ấy, có tấm lòng ấy, Bác và Đảng ta đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo vào Việt Nam, đã đưa cách mạng nước ta đi đến những thắng lợi rực rỡ như ngày nay. Tấm lòng nhân ái yêu thương con người ở Bác thật là trong sáng vĩ đại bao la như biển rộng sông dài. Bác căn dặn chúng ta: Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn với niềm tin tưởng vào sức mạnh của đoàn kết dân tộc, tin vào tương lai của dân tộc: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”[3].
          Nói về Đảng, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Bác còn chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.  
           Đối với đoàn viên và thanh niên, Bác ân cần chỉ bảo: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo thành những con người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Thể hiện sự quan tâm, săn sóc của Người đối với tương lai vận mệnh của nước nhà, và sự tin tưởng của Người đối với thế hệ trẻ những người sẽ kế tục sự nghiệp của thế hệ cha anh làm rạng danh non sông đất nước, Tổ quốc ta.   
        Bác còn dành những tình cảm trìu mến đối với mọi tầng lớp đồng bào: “nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân[4]. Bác cũng nói lên điều mong ước cuối cùng: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, và giàu mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
          Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, đinh ninh 5 lời thề của đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đọc trước anh linh của Người. Bốn mươi nhăm năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Việt Nam anh hùng đã đồng tâm hợp lực, đoàn kết một lòng, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, thử thách, phấn đấu không mệt mỏi quyết tâm biến thành hiện thực những lời chỉ bảo, ân cần, căn dặn của Bác Hồ kính yêu, nhờ đó đã giành được những thắng lợi vang dội làm rạng rỡ non sông đất nước, Tổ quốc ta. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, đưa nước ta tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa, đổi mới và hội nhập, phát triển cùng thế giới, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.              
          Lịch sử càng dần lùi xa chúng ta, giá trị hiện hữu Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng như mới đó thôi. 39 năm sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đặc biệt là 28 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua 8 kỳ Đại hội Đảng, kể từ Đại hội IV đến Đại hội XI, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn với những mục tiêu kinh tế xã hội được xác định cho từng giai đoạn cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thực hiện di huấn của Người, Đảng ta luôn coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, đồng thời ra sức xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc để: “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[5].
        Thực hiện Di chúc của Người với lời căn dặn và ước nguyện: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[6], 45 năm qua, toàn Đảng, toàn dân tộc đã đưa nước ta phát triển lên một tầm cao mới. Các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước ngày càng được củng cố, mở rộng và tăng cường tạo đà phát triển cho đất nước trong các chặng đường tiến lên. Chúng ta đã từng bước xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng cố và phát huy trong đời sống xã hội; Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ngày càng phát huy hiệu quả; xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân mà nền tảng là liên minh công nhân, nông dân, tri thức; xây dựng nền quốc phòng toàn dân với lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại để bảo vệ Tổ quốc; xây dựng một nền ngoại giao độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
          Con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là con đường đầy gian gian nan thử thách, sự nghiệp đổi mới để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng gặp không ít những gian truân, đòi hỏi chúng ta phải có ý chí quyết tâm lớn và trí tuệ cao. Những thành tựu mà chúng ta đã giành được là đáng ghi nhận và rất quan trọng, song cũng còn không ít những yếu kém và khuyết điểm cả trên hai lĩnh vực đó là phát triển kinh tế, và xây dựng Đảng. Chúng ta còn chưa làm được hoặc làm chưa đầy đủ những điều Bác Hồ căn dặn. Thông qua Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh” những năm qua, một lần nữa Đảng ta, nhân dân ta quyết tâm nhìn nhận những yếu kém và khuyết điểm để ra sức khắc phục, sửa chữa mình, phải phấn đấu hết sức mình, giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng tiến lên thực hiện lý tưởng cao đẹp của Bác Hồ. phấn đấu thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.
Cuộc đời và hoạt động của Bác là cuộc đời của một con người mà giữa tư tưởng và tấm gương đạo đức luôn có sự gắn bó nhuần nhụy. Đó là nét đặc sắc quý hiếm tạo nên bề rộng, chiều sâu và tầm cao của một trong những nhân cách vĩ đại của một thời đại, mãi mãi là nguồn ánh sáng, sức mạnh vô tận để dẫn dắt chúng ta đi tiếp con đường tới độc lập tự do và ấm no hạnh phúc. Năm 2014, kỷ niệm lần thứ 124 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 2014) và 45 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, chúng ta lại càng tự hào về thân thế, sự nghiệp và nhân cách vĩ đại của Người. Trong sự dìu dắt của Đảng, dưới ánh sáng tư tưởng của Bác, mỗi chúng ta hãy giữ cho lòng mình trong sáng, bồi đắp cho đạo đức cách mạng ngày càng thêm vững bền để tiếp tục sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đi theo con đường của Người đến đích cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam: đó vừa là ước nguyện của Người, vừa là ý Đảng, vừa là lòng dân, là điều thiêng liêng, ý nghĩa nhất  dâng lên Người nhân kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ.


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 512
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 512

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 509
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 511

[5] Văn kiện HN lần thứ 9 BCHTW khóa XI, Hà Nội, 2014, trang 47
[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 512