Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Quan diểm của Việt Nam về vấn đề chống khủng bố hiện nay



                                                                          2// Th.S Nguyễn Hữu Nghị      
                                                                                CTV.P Tiểu đoàn 1
          Hoạt động khủng bố trên thế giới xuất hiện từ rất sớm, là mối đe dọa hòa bình và an ninh toàn thể nhân loại. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hòa hoãn thay thế cho đối đầu cùng với quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã kéo các quốc gia, dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau trong xu thế hội nhập cùng phát triển. Tuy nhiên, cũng từ sau Chiến tranh lạnh nhân loại đã và đang phải đương đầu với sự bùng phát ngày càng gia tăng của các hoạt động khủng bố. Khủng bố và chống khủng bố trở thành vấn đề thời sự được cập nhật thường xuyên và trở thành vấn đề được đề cập đến ngày càng nhiều trong các cuộc hội thảo, các chương trình nghị sự, các diễn đàn an ninh khu vực và hợp tác quốc tế.
         Là một thành viên tích cực có uy tín và vị thế ngày càng tăng ở khu vực và trên trường quốc tế, Việt Nam đã quan tâm sâu sắc và bày tỏ thái độ, quan điểm của mình về vấn đề đấu tranh chống khủng bố. Từ nền tảng truyền thống đối ngoại hoà hiếu, tinh thần yêu chuộng hoà bình, đường lối đối ngoại nhân đạo được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử, Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kịch liệt lên án, phản đối mọi hình thức hoạt động khủng bố. Việt Nam lên án khủng bố quốc tế ủng hộ sự hợp tác giữa các quốc gia trong đó có Mỹ nhằm loại trừ khủng bố quốc tế: “Việt Nam cho rằng, chủ nghĩa khủng bố là một trong những mối đe doạ trắng trợn nhất đối với hoà bình, an ninh và ổn định trên thế giới hiện nay”[1]  . Việt Nam cam kết tích cực tham gia đóng góp sức mình vào cuộc đấu tranh với các hoạt động khủng bố. Việt Nam nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình được cam kết trong các công ước, văn bản quốc tế mà Việt Nam ký kết trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố. Việt Nam đã ra nhập một số công ước quốc tế trong lĩnh vực chống khủng bố như Công ước Kyôtô 1963, Công ước Lahay 1970, Công ước Montreal 1971, Nghị định thư 1998 bổ xung công ước Montreal và đang nghiên cứu việc gia nhập một số công ước quốc tế khác về chống chủ nghĩa khủng bố.
       Đã từng phải đối mặt với những hoạt động mang tính chất khủng bố như vụ cướp máy bay năm 1979, vụ tên không tặc Lý Tống xâm phạm bầu trời Việt Nam rải truyền đơn năm 2000, các phần tử kích động gây rối ở Tây Nguyên từ ngày mùng 10 đến ngày 13 tháng 4 năm 2004…đặc biệt trong âm mưu Diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch  chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc đổi mới, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, kẻ thù cũng sử dụng hành động khủng bố hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân…Nhận thức sự nguy hiểm của chủ nghĩa khủng bố,  Việt Nam luôn có một thái độ rõ ràng, dứt khoát đó là phản đối mạnh mẽ mọi hoạt động khủng bố, mọi hành động phá hoại trật tự an ninh quốc gia, mọi âm mưu hành động xâm phạm chủ quyền, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia dân tộc.
       Vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội luôn được Đảng và nhà nước Việt Nam quan tâm đặc biệt. Trong Văn kiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI ghi rõ: “giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch và các loại tội phạm khác”[2] .  Bộ luật hình sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định rõ những hình phạt nghiêm khắc cho loại tội phạm đặc biệt, tội khủng bố:
    “Điều 84: tội khủng bố.
   1. Người nào nhằm khủng bố chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân thì bị phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
   2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ người khác thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm.
   3. Phạm tội trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần thì bị phạt tù từ 2 đến 7 năm.
   4. khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho hoạt động quốc tế của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo điều này”[3].
        Trong điều 3 Luật chống khủng bố của nước CHXHCNVN ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2013 khẳng định:
        1. Khủng bố là một, một số hoặc tất cả hành vi sau đây của tổ chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân, ép buộc chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng:
a) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác;
b) Chiếm giữ, làm hư hại, phá hủy hoặc đe dọa phá hủy tài sản; tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
c) Hướng dẫn chế tạo, sản xuất, sử dụng hoặc chế tạo, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, chất cháy và các công cụ, phương tiện khác nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này;
d) Tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục, cưỡng bức, thuê mướn hoặc tạo điều kiện, giúp sức cho việc thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;
đ) Thành lập, tham gia tổ chức, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện đối tượng nhằm thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
e) Các hành vi khác được coi là khủng bố theo quy định của điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
       Trên các diễn đàn quốc tế, Việt Nam công khai bày tỏ quan điểm rõ ràng của mình đối với các hoạt động khủng bố. tích cực, chủ động tham gia bàn thảo về cách thức, biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các lực lượng khủng bố, hợp tác đa phương chống khủng bố. Ngày 18/9/2002, tại khoá họp lần thứ 37 Đại hội đồng LHQ, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam, Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã bày tỏ quan điểm, thái độ của Việt Nam về vụ khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ “…chúng ta lên án chủ nghĩa khủng bố chống lại dân thường dưới mọi hình thức và sẽ hành động theo đúng Hiến chương LHQ vì đó là cách để cuộc chiến chống khủng bố có thể duy trì được lâu dài…”[4] .
        Việt Nam không tán thành các hoạt động khủng bố đã cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Song cũng cần phải nhìn nhận vấn đề trên cơ sở khách quan và chủ quan dẫn đến hậu quả của nó. Chủ nghĩa khủng bố và khủng bố quốc tế đều có liên quan đến thực trạng bất bình đẳng nghiêm trọng trong quan hệ quốc tế. Những lợi ích và bất lợi do toàn cầu hoá tạo ra không được chia xẻ một cách công bằng giữa các quốc gia, nhất là các nước phía Bắc phát triển với các nước chậm phát triển ở phía Nam. Sự phát triển không đồng đều về kinh tế, xã hội dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng, gây ra những phản ứng tiêu cực trong một bộ phận xã hội. Họ cảm thấy bị bế tắc trong việc tìm ra giải pháp tháo gỡ, cho nên đã tìm đến những biện pháp cực đoan, thái quá về chính trị…đấu tranh, loại trừ chủ nghĩa khủng bố quốc tế, Việt Nam cho rằng cần phải có sự hợp tác trên cơ sở bình đẳng, chú trọng phát triển kinh tế. Muốn chống khủng bố hiệu quả thì phải phát triển cân đối, phải đảm bảo sự bình đẳng trong hưởng thụ những thành tựu chung của văn minh nhân loại ở cả quy mô khu vực và thế giới. Cộng đồng thế giới nói chung, trước hết là các nước công nghiệp phát triển, cần phải giúp đỡ các nước nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo đói, bệnh tật và chậm phát triển. Ở đâu công bằng xã hội được thực thi kém nhất, thì ở nơi đó khủng bố xảy ra dữ dội nhất. Khủng bố là tín hiệu phản hồi của một thực trạng tồi tệ do các chính sách xã hội sai lầm cùng các quan hệ quốc tế bất bình đẳng tạo ra.
         Để đấu tranh có hiệu quả với hoạt động khủng bố, cần phải giải quyết ổn thoả, toàn diện về các vấn đề kinh tế – xã hội, dân tộc, tôn giáo, pháp luật. Các chính phủ cần tập chung sức để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thực hiện công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội.
        Việt Nam cũng khẳng định quan điểm phản đối việc lợi dụng vấn đề chống khủng bố để can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia. Đấu tranh chống khủng bố phải được tiến hành phù hợp với Hiến chương LHQ, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền quốc gia cũng như nguyện vọng hoà bình, ổn định và cùng phát triển của toàn thể nhân loại. Việt Nam phản đối việc lợi dụng danh nghĩa chống khủng bố để đe doạ tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, lên án việc sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ khí huỷ diệt, vũ khí giết người hàng loạt, trước hết là vũ khí hạt nhân nhằm mục tiêu khủng bố hoặc dưới danh nghĩa chống khủng bố.
        Nhìn chung, đối với chủ nghĩa khủng bố, Việt Nam luôn khẳng định đó là một mối đe doạ trắng trợn đối với hoà bình, an ninh và ổn định quốc tế hiện nay. Việt Nam có quan điểm nhất quán đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa khủng bố, nhằm đảm bảo hoà bình và ổn định cho quốc gia, khu vực và toàn thế giới. Cuộc đấu tranh chống khủng bố cần phải được tiến hành  phù hợp với các ko
 nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, với điều kiện cụ thể của khu vực và phạm vi toàn thế giới. Quan điểm nhất quán của Việt Nam: hoạt động khủng bố là phi nhân đạo, bị cả thế giới lên án cực lực. Hành động khủng bố nhất thiết phải loại trừ ra khỏi xã hội văn minh, như lời Nguyên Chủ tịch Phidel Castro đã nói “Dù nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa khủng bố như thế nào, dù các yếu tố
kinh tế và chính trị có ảnh hưởng đến nó như thế nào, và dù ai đó phải chịu trách nhiệm đã mang nó đến với thế giới này, thì cũng không một ai có thể phủ nhận rằng chủ nghĩa khủng bố ngày nay là một hiện tượng nguy hiểm không thể bào chữa được về mặt đạo lý và phải bị loại trừ”[5].


      * Địa chỉ liên lạc: 2// Nguyễn Hữu Nghị CTV.P Tiểu đoàn 1, Trường Sĩ quan Chính trị.
     * ĐTDĐ: 0915.074275




[1] Về Chủ nghĩa khủng bố, NXBCTQG, Hà Nội, 2003, trang 45
[2] Toàn văn thông cáo chung Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 32 tại Singapore từ 2 – 4 tháng 7 năm 1999, HVCTQGHCM,  Tài liệu tham khảo, Hà Nội 1999, trang 221.

[3][3]  Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXBCTQG, Hà Nội 2002, trang 61
[4] Toàn văn thông cáo chung Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 32 tại Singapore từ 2 – 4 tháng 7 năm 1999, HVCTQGHCM,  Tài liệu tham khảo, Hà Nội 1999, trang 95.

[5] Về chủ nghĩa khủng bố, NXBCTQG 2003, trang 45

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

NGĂN CHẶN ÂM MƯU “TỰ DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG HIỆN NAY



                                                           Nguyễn Hữu Nghị, CTVP d1

         Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc năm 1945, được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa, của lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên toàn cầu, hàng loạt các quốc gia, dân tộc đã đứng lên đánh đổ các thế lực thực dân, đế quốc giành độc lập dân tộc và lựa chọn con đường phát triển của mình đi lên xã hội hiện đại. Các thế lực đế quốc tiếp tục tìm cách khuất phục các quốc gia non trẻ mới giành được độc lập bằng sức mạnh quân sự, tuy nhiên cơ bản đều thất bại. Không từ bỏ âm mưu lôi kéo, thâm nhập, gây ảnh hưởng, làm rối loạn toàn diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những nước không đi theo “thế giới tự do” của các thế lực phản động, chúng đã đưa ra cái gọi là “cuộc cách mạng nhung” để có thể dẫn tới “chiến thắng không cần chiến tranh”, và “Diễn biến hòa bình” là một nội dung quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Đây là cuộc chiến thầm lặng nhằm tấn công toàn diện vào các mục tiêu bên trong cả về chính trị, kinh tế, tư tưởng, lý luận, văn hóa, nghệ thuật ..., khoét sâu những mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự thống nhất về tư tưởng và ý chí trong đảng cộng sản, làm cho nội bộ tự suy yếu và tự diễn biến. Việt Nam là một trong những nơi các thế lực phản động, đế quốc tập chung tiến hành “Diễn biến hòa bình”
       Thực chất của “diễn biến hòa bình” chính là nhằm đẩy mạnh quá trình tự diễn biến, chủ động tạo ra các áp lực, tấn công chính diện vào lĩnh vực tư tưởng và lý luận, từ đó làm tan rã niềm tin, suy sụp về tinh thần, mất định hướng, hỗn loạn về lý luận, sẽ là điều kiện tốt nhất hình thành và nuôi dưỡng tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn chống đối từ bên trong. Thực tiễn lịch sử cho thấy, ráo riết theo đuổi và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm tạo ra quá trình tự diễn biến, tập trung trước hết ở lĩnh vực tư tưởng và lý luận, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ đã làm sụp đổ nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, kể cả Liên Xô - nhà nước hùng mạnh nhất trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
        Để nhận diện một cách rõ nét “tự diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận, cần xác định đúng bản chất, mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Có thể tóm tắt mục tiêu của chiến lược này tập trung ở các khía cạnh:
        Dùng mọi thủ đoạn và tất cả các phương tiện hiện có, phản bác, xuyên tạc, phủ định, xóa bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng, từng bước thay thế chủ nghĩa Mác bằng ý thức hệ tư sản.
        - Xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Tạo áp lực và gây sức ép buộc chúng ta từ bỏ con đường đã chọn, quay trở lại chủ nghĩa tư bản.
Đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải rút lui khỏi vũ đài chính trị, thực hiện đa nguyên, đa đảng.
        “Tự diễn biến hòa bình” là sản phẩm và là biểu hiện cụ thể của “diễn biến hòa bình”, do sức ép và áp lực từ “diễn biến hòa bình” tạo nên. Như vậy, “diễn biến hòa bình” là hoạt động tấn công từ phía kẻ thù, còn “tự diễn biến hòa bình” là nói về quá trình diễn ra trong chính nội bộ ta.
        “Tự diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận thể hiện tập trung trước hết là ở sự dao động về chính trị, mất định hướng, khủng hoảng niềm tin, đường lối chiến lược và lý luận. Ở Việt Nam, trước sự tấn công của kẻ thù bằng “diễn biến hòa bình”, đã làm xuất hiện bệnh cơ hội, thực dụng, thiếu trung thực gia tăng, thái độ thờ ơ, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng.
       Về khách quan, nguyên nhân của “tự diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận trước hết chịu sự tác động từ phía chủ nghĩa đế quốc. Sau khi Tổng thống Barack Obama trúng cử và tái trúng cử nhiệm kỳ II, chính phủ Mỹ đã có những điều chỉnh và các bước đi tích cực trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không thay đổi mục tiêu chống phá cách mạng nước ta. Họ tạo sức ép, khoét sâu vào những yếu kém của chính chúng ta trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội; tập trung công kích, đả phá vào Đảng ta, gây xung đột, bất bình, mất đoàn kết nội bộ, đặc biệt là vu khống, xuyên tạc, chủ đích làm mất đoàn kết trong cán bộ cấp cao. Hơn thế, bằng chiêu thức tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, chính quyền mới của Obama đang đưa “diễn biến hòa bình” vào sâu hơn trong nội bộ ta, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự diễn biến, trong đó chú trọng đến tự diễn biến trong lĩnh vực tư tưởng và lý luận; tiếp tục làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy nhanh tốc độ quá trình suy sụp niềm tin, mất định hướng phát triển, từng bước làm biến chất chế độ xã hội chủ nghĩa.
       Từ góc độ chủ quan, nguyên nhân của “tự diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận, trước hết là do nhận thức non kém của bộ phận cán bộ, đảng viên. Sau khi nhiều nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, đất nước ta đứng trước nhiều thách thức và phải đối mặt với không ít khó khăn. Trước những hiện tượng phức tạp nảy sinh, nhiều cán bộ, đảng viên không đủ sức tự lý giải. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế diễn ra nhanh chóng và sâu rộng, nhận thức của nhiều người đã không theo kịp với yêu cầu của sự phát triển, thiếu hiểu biết dẫn đến hoang mang, dao động, cao hơn nữa là mất niềm tin, mất định hướng. Đồng thời, mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền đã thoái hóa về phẩm chất, đạo đức lối sống, vì lợi ích cá nhân, lại thiếu sự rèn luyện tu dưỡng, bị những cám dỗ vật chất làm “hoa mắt”, biết sai vẫn cố tình làm, miễn là thu lợi nhiều nhất cho cá nhân mình. Từ sự thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, tất yếu sẽ dẫn tới sự biến chất về chính trị, trở thành kẻ phản bội lợi ích của cách mạng. Quan liêu, tham nhũng là biểu hiện của loại hình tự diễn biến xấu xa và tệ hại nhất về mặt tư tưởng - chính trị, phá từ bên trong, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào bản chất ưu việt của chế độ.
        Tự diễn biến về mặt tư tưởng và lý luận còn do tình trạng một số nơi mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng kéo dài, làm nội bộ suy yếu, mất sức đề kháng, tư tưởng xấu thâm nhập lây lan, tư tưởng tích cực tiến bộ suy giảm.
        “Tự diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng và lý luận có cùng một mục tiêu chung mà kẻ địch hướng tới làm cho đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ta, từ cán bộ cấp cao cho đến dân thường đều có chung tâm trạng hoài nghi, dao động. Nghi ngờ thành quả cách mạng trong quá khứ, nhìn nhận hiện thực bằng cái nhìn tiêu cực, yếu kém, thiếu niềm tin vào tương lai.
        Để đạt được mục tiêu đề ra, phạm vi tác động của “tự diễn biến hòa bình” về tư tưởng và lý luận mà kẻ thù đang tập trung hướng tới bao gồm:
        - Một bộ phận cán bộ trong Đảng, kể cả cán bộ cấp cao, đang giữ những những vị trí trọng trách trong bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống chính trị; Trí thức và tầng lớp văn nghệ sỹ; Thanh niên, sinh viên, lực lượng đông đảo và có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, là bộ phận năng động, nhạy bén, có khả năng tiếp nhận và thích nghi với cái mới nhanh; Những phần tử cơ hội chính trị; Một bộ phận nhân dân do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, hoặc bị kẻ xấu lợi dụng mua chuộc dụ dỗ, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người, đồng bào theo các tôn giáo ... Bộ phận này thường bị kích động, lôi kéo, trở thành quân cờ chính trị trong tay các thế lực thù địch. Chúng sử dụng bộ phận này như một công cụ gây áp lực chính trị, buộc chúng ta nhượng bộ thay đổi đường lối.
        Trước những tác động của tình hình thế giới, của kỹ thuật truyền thông hiện đại và nghệ thuật chiến tranh tâm lý, thông qua tự diễn biến, một bộ phận nhỏ trong đó có cả cán bộ, đảng viên đã bị kẻ thù làm lung lạc ý chí và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước. Song một thực tế không thể phủ nhận, nhờ kiên trì vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt thế kỷ XX Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam làm nên những kỳ tích ở thế kỷ XX, đó là: Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công chấm dứt kiếp lầm than nô lệ cho dân tộc, lần lượt đánh bại hai kẻ thù xâm lược hùng mạnh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, Đại thắng mùa xuân 1975 khiến cả thế giới ngưỡng mộ, khâm phục. Nêu gương sáng cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Thực hiện sáng tạo công cuộc đổi mới, CNH - HĐH đất nước 27 năm qua, hội nhập toàn diện với khu vực  và thế giới, có vị thế chính trị cao trong cộng đồng quốc tế. Đó chính là sức mạnh, là chất miễn dịch, là động lực để toàn Đảng, toàn dân ta ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại hoàn toàn âm mưu “tự diễn biến hòa bình” của kẻ thù. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển khách quan của sự nghiệp đổi mới, trước những mưu đồ đen tối và cực kỳ nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến hòa bình”, chúng ta cần thực hiện triệt để một số biện pháp sau: Rút kinh nghiệm những thành tựu to lớn và hạn chế từ thực tiễn 27 năm đổi mới, thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020;  Kiên quyết chống trả và bác bỏ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, khẳng định tính đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối, chính sách Đảng và Nhà nước; Đẩy mạnh Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chọn các điển hình tiên tiến trong thực hiện Cuộc vận động để nhân rộng, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, làm cho Cuộc vận động từng bước đi vào chiều sâu, tạo ra những chuẩn giá trị đạo đức mới có sức cổ vũ các tầng lớp nhân dân. Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh và nâng cao nhận thức về chủ nghĩa xã hội chính là nền tảng vững chắc ngăn chặn và đấu tranh chống “tự diễn biến hòa bình”.
        Nắm chắc và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ chí Minh, vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam trên cơ sở kiên định đường lối xã hội chủ nghĩa, chúng ta sẽ làm thất bại mọi âm mưu “tự diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Hạt nhân cốt lõi làm lên thắng lợi đòi hỏi sự kiên định, gương mẫu và vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên để tập hợp quần chúng tạo nên sức mạnh vô song, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

MỘT VÀI KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở KHOA VĂN HÓA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY Người thực hiện: 2// Th.S Nguyễn Hữu Nghị



         Hiện nay ở Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ nói riêng cũng như các Khoa khác ở Trường Đại học Chính trị nói chung, đội ngũ giảng viên mới, giảng viên trẻ chiếm tỉ lệ rất cao với tuổi nghề dưới 5 năm công tác. Đây là đội ngũ giảng viên kế cận, tương lai của Nhà trường với đặc điểm mới tốt nghiệp các trường đại học trong và ngoài quân đội, đang trong độ tuổi thanh niên tràn đầy nhiệt huyết, tinh thần nghề nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy đội ngũ giảng viên trẻ cũng vấp phải không ít khó khăn: đối tượng giảng dạy khác với mục tiêu yêu cầu đào tạo ở các trường đại học họ tốt nghiệp, khả năng, kinh nghiệm giải quyết các tình huống sư phạm còn hạn chế, việc nắm bắt, làm chủ công nghệ thông tin, ứng dụng trang thiết bị hiện đại vào giảng dạy còn lúng túng, chưa hiệu quả, phương pháp dạy học còn đơn điệu, kiến thức đại học ít nhiều bị rơi rụng…từ thực tiễn kết quả đổi mới phương pháp dạy học ở Khoa Văn hóa Ngoại ngữ những năm gần đây, chúng tôi xin được trao đổi một số kinh nghiệm sau:
        Thứ nhất: Sự quan tâm,chỉ đạo sâu sát của cấp ủy, chi bộ, lãnh đạo,  Chỉ huy Khoa, cán bộ Bộ môn trong công tác bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trẻ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
        Ngay từ đầu năm học, học kỳ, căn cứ vào lịch dự báo nhiệm vụ giảng dạy, Cấp ủy, Chi bộ, lãnh đạo chỉ huy Khoa cùng bộ môn rà soát chất lượng giảng viên, nắm chắc ưu điểm và hạn chế sư phạm của từng đồng chí, lên kế hoạch bồi dưỡng chi tiết đến từng tuần và triển khai thực hiện nghiêm túc, trọng tâm là:
       Củng cố kiến thức cơ bản: thông qua hướng dẫn hoạt động tự học, tự nghiên cứu củng cố, mở rộng kiến thức chuyên ngành đảm nhiệm; tăng cường hoạt động nhóm chuyên môn: sinh hoạt học thuật, trao đổi kinh nghiệm lên lớp, đặc biệt là yêu cầu của Khoa khi thông qua bài phải giảng thành công bằng bảng đen phấn trắng rồi mới giảng trình chiếu (điều này buộc các giảng viên trẻ phải thuộc, hiểu, nắm chắc kiến thức, thành thục nội dung bài giảng mới có thể thoát ly giáo án, tự tin trong quá trình lên lớp) tránh tư tưởng không cần nắm kỹ nội dung bài, chỉ cần ấn các Slide trình chiếu là giảng được.
       Bồi dưỡng về phương pháp, kỹ năng sư phạm: dưới nhiều hình thức: tổ chức thông qua bài ở bộ môn, cán bộ Khoa, bộ môn tăng cường dự giờ, kiểm tra giảng thường xuyên, đột xuất. Các tổ chức đoàn thể như Hội đồng quân nhân, Chi đoàn thanh niên, Hội phụ nữ Khoa linh hoạt, sáng tạo lồng ghép hoạt động sư phạm trong các hoạt động trọng tâm của mình: tổ chức các giờ giảng thi đua, giờ giảng thanh niên, phụ nữ hưởng ứng các đợt thi đua do Nhà trường, Khoa phát động. Qua đó tạo bầu không khí sư phạm sôi nổi, thiết thực, hiệu quả. Từ những giờ giảng thông qua bài ở Khoa cho đến những giờ giảng tốt, giờ giảng rút kinh nghiệm, giờ giảng thi giảng viên giỏi Nhà trường, Khoa luôn khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho mọi giảng viên đi dự. Qua đó những ưu điểm của từng đồng chí được ghi nhận, phát huy, đồng thời những hạn chế bộc lộ sẽ được rút kinh nghiệm khắc phục chung cho đội ngũ giảng viên mới, giảng viên trẻ từ kỹ thuật viết bảng, tư thế tác phong, khẩu khí, ngôn ngữ đến xây dựng và giải quyết tình huống sư phạm, dạy học nêu vấn đề, dạy học tích cực trong từng chủ đề hay học phần, soạn giảng trình chiếu. Một số giờ giảng của các giảng viên trẻ Triệu Thu Thủy, Đặng Thị Hương Trầm, Nguyễn Thị Thủy, Đặng Quốc Tuấn được Thủ trưởng Nhà trường, Thủ trưởng Khoa dự có ấn tượng tốt, được kịp thời động viên, khích lệ, nhân rộng…Bên cạnh đó kết thúc mỗi buổi dự giảng, Khoa cũng như bộ môn tổ chức đánh giá nghiêm túc, rút kinh nghiệm từng ưu điểm và hạn chế một cách khách quan, cho các giảng viên được dự giờ. Qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của Khoa, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện của Khoa, Nhà trường.
        Thứ hai:Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở Khoa VHNN cần đặc biệt nâng cao chất lượng nội dung giảng dạy, hết sức chú ý khắc phục lối truyền thụ một chiều, máy móc xơ cứng, đặc biệt khi giảng dạy cho đối tượng học viên quốc tế; Giải quyết tốt vấn đề thời gian và nội dung môn học; sử dụng hiệu quả phương tiện trình chiếu.
       Chúng ta biết rằng ngày nay, sự nghiệp đổi mới của đất nước đang diễn ra mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu, những vấn đề kinh tế, xã hội trở nên sôi động cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật thế giới, việc giảng dạy các môn học không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức đóng cứng trong giáo trình, tập bài giảng mà cần phải cập nhật thực tiễn, theo sát những chuyển biến của đất nước và thế giới, kịp thời lựa chọn, bổ sung, cập nhật thông tin vào bài giảng thông qua Nghị quyết của Đảng, các nguồn tài liệu tham khảo chính thống qua các kênh thông tin phong phú của thời đại khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, bài giảng rất cần tổng kết kinh nghiệm, đúc rút quy luật, dự báo cho tương lai, nhất là với các môn khoa học xã hội. Một bài giảng hấp dẫn, khoa học phải luôn gắn liền với thực tiễn cuộc sống của đất nước, của dân tộc và của thời đại.
        Để nâng cao chất lượng nội dung dạy học đòi hỏi giảng viên phải không ngừng bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, hiểu biết sâu sắc khoa học chuyên ngành, nắm bắt kịp thời những tri thức khoa học liên ngành để phục vụ công tác giảng dạy. Đổi mới phương pháp dạy học ở Khoa VHNN yêu cầu đặt ra là phải nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính tư tưởng trong từng tiết giảng, từng chuyên đề, học phần. Điều này có nghĩa là thông qua những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ,ngoại ngữ khơi dậy ở học viên ý thức tự giáo dục tư tưởng và chuyển biến hành động của họ.
         Một vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới phương pháp ở Khoa VHNN nói riêng, các khoa trong Nhà trường nói chung là mâu thuẫn cần giải quyết giữa số tiết của các môn học có hạn định với khối lượng kiến thức các môn học không ngừng tăng lên trong thời đại bùng nổ thông tin. Để giải quyết tốt mâu thuẫn này, vấn đề quan trọng đối với giảng viên là xác lập được một kết cấu nội dung chương trình hợp lý, khoa học, hàm chứa được những nội dung cơ bản của môn học, lựa chọn kiến thức phù hợp để bài giảng theo kịp hơi thở cuộc sống, tránh giáo điều, lạc hậu thông tin, đồng thời giảng viên cần tận dụng vai trò của giáo trình, tập bài giảng, tài liệu tham khảo phục vụ học tập  môn học sao cho hiệu quả nhất đảm bảo tính chọn lọc, cập nhật mà không gây cảm giác “quá tải” đối với học viên.
       Thứ ba: Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học.
        Theo phương hướng này, giảng viên trong quá trình lên lớp phải làm sao huy động toàn bộ các chức năng tâm lý, đặc biệt là khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học viên để thực hiện tốt mục tiêu đào tạo đề ra.
        Bản chất của việc chuyển sang phương pháp dạy học tích cực, thực hiện tăng đối thoại trong dạy học chính là “tạo ra mối quan hệ tích cực giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học”, và như vậy, đổi mới phương pháp dạy học dựa trên sự kết hợp tối ưu hoạt động của giảng viên với hoạt động của học viên theo hướng tích cực. Giảng viên không áp đặt, không làm thay học viên, đến lượt mình, học viên không thụ động, ỷ lại, chỉ tái hiện lại nội dung bài giảng một cách đơn thuần. để thực hiện được điều này, khâu giảng bài có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng:
       Đẩy mạnh phương pháp dạy học nêu vấn đề, làm cho mỗi bài giảng trở thành một quá trình “tìm kiếm mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn”, đồng thời tạo ra sự say mê, hứng thú, kích thích tính năng động, sáng tạo của người học. như vậy, chất lượng của bài giảng nêu vấn đề phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị nội dung của cả giảng viên và học viên.
        Giảng viên tạo ra tình huống có vấn đề một cách hợp lý, sẽ kích thích tư duy sáng tạo của người học, gây hứng thú học tập cho học viên, học viên cảm thấy được trực tiếp tham gia vào quá trình tìm kiếm chân lý, tìm kiếm nguồn tri thức mới…Khi nêu vấn đề, giảng viên cần hướng dẫn cho học viên phương pháp suy nghĩ, phát triển ở họ khả năng tư duy khoa học năng lực nhận xét, phê phán, khái quát hoá. Có những vấn đề khoa học đưa ra từ đầu học phần, chuyên đề, có những câu đưa ra trong quá trình giảng bài hoặc kết thúc bài giảng, có những vấn đề giảng viên giải đáp ngay, có những vấn đề cho học viên thời gian tìm tòi, suy nghĩ, thông qua đó tạo ra động cơ học tập cho người học bởi về mặt tâm lý, bởi con người chỉ tư duy tích cực khi nhận thấy có vấn đề cần tìm hiểu, nghiên cứu và lức bấy giờ mới có nhu cầu nghiên cứu và học tập.
         Về vấn đề soạn giảng trình chiếu: hiện nay cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện dạy học đã được cải thiện đáng kể, 100% hội trường được lắp máy chiếu, hệ thống bài soạn của các giảng viên cơ bản được soạn trình chiếu và sử dụng trong quá trình lên lớp, tuy nhiên qua thực giảng đã bộc lộ nhiều hạn chế: một số giảng viên chưa hiểu rõ dạy trình chiếu cần sơ đồ hóa bài giảng, một số khác bài giảng trình chiếu vẫn nặng về đưa bài giảng World lên màn hình, dùng màn hình thay cho bảng đen phấn trắng dẫn tới các slide trình chiếu lạm dụng quá nhiều chữ khi đưa lên màn hình, học viên mải chép thì không nghe giảng được, không hiểu bài, mà mải nghe giảng thì không ghi chép được nội dung cơ bản (nhất là với đối tượng học viên quốc tế Lào và Cam pu chia). Để khắc phục vấn đề này, lãnh đạo chỉ huy Khoa, Hội đồng Khoa học khoa cùng các cán bộ bộ môn đã rà soát, chỉnh sửa đến từng bài giảng để đảm bảo tính khoa học, hợp lý và đúng với nghĩa bài giảng trình chiếu, ứng dụng phương tiện, công nghệ hiện đại vào dạy học. Khắc phục triệt để tình trạng lạm dụng màu mè trong các slide, sử dụng quá nhiều tranh ảnh gây phân tán sự chú ý của học viên.
         Thứ tư: Giảng viên định hướng đổi mới phương pháp học tập của học viên sao cho ngày càng thống nhất với phương pháp nghiên cứu khoa học.
         Giảng viên với tư cách là chủ thể của quá trình dạy học, tổ chức, hướng dẫn học viên chuyển dần từ phương pháp học tập truyền thống: tiếp thu, tái nhận và tái hiện tri thức, kỹ năng…sang con đường tự tìm tòi, tự khám phá, sáng tạo, con đường nghiên cứu khoa học.
         Học viên đào tạo SQCT cấp phân đội chưa phát huy được nhiều tính tự chủ và khả năng nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập, điều mà sinh viên các trường đại học ngoài quân đội nhận thức và tiến hành tốt hơn.
         Các học phần của Khoa VHNN cơ bản được bố trí dạy ở năm thứ nhất và thứ hai, đây cũng là một khó khăn không nhỏ cho giảng viên khi tổ chức, hướng dẫn học viên tập dượt, nghiên cứu khoa học. Học viên đào tạo dù có nguồn từ học sinh phổ thông hay đã trải qua quân ngũ khi vào học năm thứ nhất, thứ hai còn hết sức bỡ ngỡ với phương pháp dạy học đại học, quá trình học tập còn mang những dấu ấn phổ thông. Vấn đề đặt ra cho giảng viên là phải làm sao khơi gợi, khích lệ tinh thần ham học hỏi, tập dượt nghiên cứu khoa học, để nghiên cứu khoa học trở thành nhu cầu, thành phong trào cho học viên SQCT cấp phân đội.
        Trên thực tế, vấn đề hướng dẫn học viên tập dượt nghiên cứu khoa học ở  Khoa VHNN đã được tiến hành từ nhiều năm qua, đặc biệt là ở bộ môn Lịch sử, Văn học, Cơ sở văn hóa, Tiếng Anh. Tuy nhiên kết quả đạt được còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Để học viên có thể say mê, hứng thú và nhiệt tình tập dượt nghiên cứu khoa học, cần phải tạo ra động lực cho họ như tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ hiệu quả cả về vật chất và tinh thần từ các Phòng, Khoa, Ban, Hệ, Tiểu đoàn. Có hình thức động viên, khen thưởng tương xứng với kết quả nghiên cứu đạt được.
        Dù kết quả nghiên cứu khoa học còn khiêm tốn nhưng nó đã có tác dụng không nhỏ trong việc bồi dưỡng, giáo dục cho học viên phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo. Thực hiện tốt định hướng này sẽ giúp học viên khơi dậy tiềm lực hoạt động nghiên cứu khoa học, có năng lực không ngừng nâng cao trình độ nhận thức khoa học của bản thân, góp phần giải quyết những vấn đề khoa học mới mẻ do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Mặt khác, làm cho học viên có điều kiện thâm nhập thực tiễn xã hội, hoà được vào nhịp sống xã hội và tích cực đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của xã hội.
        Tóm lại: đổi mới phương pháp dạy học  ở khoa VHNN thực chất là đổi mới cách thức hoạt động dạy học của giảng viên và học viên, nó đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo cao độ của giảng viên trong quá trình lựa chọn phương pháp, đổi mới phương pháp dạy học để có được phương pháp tối ưu, kết quả đánh giá cuối cùng chính là hiệu quả tiếp nhận, lĩnh hội tri thức chủ động, sáng tạo, hiệu quả của học viên.
            * Địa chỉ liên lạc: Nguyễn Hữu Nghị, CTV.P Tiểu đoàn 1, Trường Đại học Chính trị.    SĐT: 0915.074275