Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2019

XẢO TRÁ BẢO GIANG!

                                                  NHN

        Nhiều bạn đọc sẽ mang cảm giác ức chế, khó chịu và giận dữ bởi sự thật lịch sử bị nhà nặn, xuyên tạc trắng trợn trong bài báo “Chung bầu trời, hai lối đi” của tác giả Bảo Giang trên Blog Danlambao.

Củ chuối hải ngoại!


Thứ Ba, 26 tháng 2, 2019

Bản chất của tổ chức phản động lưu vong “Triều Đại Việt”

                                                                       NHN (ST)

     Thời gian gần đây, tổ chức phản động lưu vong “Triều đại Việt” triển khai nhiều hoạt động khủng bố, phá hoại, đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia. Qua mạng xã hội, số đối tượng cầm đầu ở bên ngoài từng bước tiếp cận, tác động đối tượng trong nước để liên lạc, chuẩn bị phương tiện vũ khí, kế hoạch khủng bố, phá hoại kích động biểu tình gây rối an ninh trật tự...

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC THÁNG 2/1979 – GÓC NHÌN THẲNG TỪ CÁC HỌC GIẢ TRUNG QUỐC

                                                                 NHN

        Đã 40 năm trôi qua kể từ khi Trung Quốc huy động 60 vạn quân gồm nhiều quân đoàn chủ lực với sự yểm trợ của hàng ngàn xe tăng, trọng pháo ồ ạt mở cuộc tiến công xâm lược vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta ngày 17/2/1979. Luận điệu mà chính quyền Bắc Kinh đưa ra khi đó là

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 2/1979: dã tâm và sự thất bại của chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc với Việt Nam!

                                                               NHN

      Cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống quân Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 đã đi vào lịch sử 40 năm, nhưng âm hưởng vẫn còn trong tâm trí của mỗi người, trong nghiên cứu, kể cả những cựu chiến binh của hai bên đã từng tham chiến.
      Đã có nhiều nghiên cứu với những góc nhìn, đánh giá khác nhau và cũng còn nhiều vướng mắc khó giải thích, cho nên dẫn đến có những cách hiểu, sự đánh giá thế này hay thế khác. Việc xem xét, đánh giá một cách chính xác, khoa học cuộc chiến tranh này rất cần thiết để trả lại công bằng cho lịch sử, để có nhận thức, thái độ đúng, để suy ngẫm trong hiện tại và tương lai.
      Mục tiêu bá quyền nước lớn
      Xem xét, đánh giá một cuộc chiến tranh nổ ra phải thật sự tôn trọng khách quan, toàn diện, lịch sử và cụ thể. Lịch sử mấy nghìn năm, từ buổi đầu dựng nước đến nay, Trung Quốc đã tiến hành 14 cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, trong đó có 13 cuộc của các triều đại phong kiến phương Bắc.
     Tưởng rằng, truyền thống xấu xa đó sẽ mất đi trong thời hiện đại, văn minh và đặc biệt trong điều kiện cả hai dân tộc cùng được gọi là nước xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng, những nhà lãnh đạo Trung Quốc thời kỳ đó vẫn ôm mộng bá quyền nước lớn, mặc dù đã giúp đỡ Việt Nam tiến hành chiến tranh chống thực dân, đế quốc, nhưng bên trong vẫn âm thầm lợi dụng thực hiện mục tiêu này.
     Cách thức ấy không đạt được mục tiêu khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (30/4/1975), đi lên chủ nghĩa xã hội. Trung Quốc đã nuôi dưỡng, sử dụng Khmer đỏ làm tên lính xung kích tiến hành chiến tranh xâm lấn biên giới Tây Nam Việt Nam. Việt Nam bắt buộc phải bảo vệ Tổ quốc và quân tình nguyện Việt Nam vì nghĩa vụ quốc tế cao cả đã giúp bạn giải phóng dân tộc Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng.
      Cuộc chiến đã cận kề chiến thắng hoàn toàn thì các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể để yên. Cùng với đó, trong nước (Trung Quốc), lãnh đạo đang phải tranh chấp với các lực lượng đối lập diễn ra quyết liệt. Không còn con đường nào khác, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc tháng 2/1979. Qua đó thực hiện "một mũi tên bắn nhiều mục tiêu" trong chiến lược bá quyền nước lớn của họ. Nguyên nhân của cuộc chiến tranh này là từ phía Trung Quốc.
     Cuộc chiến tranh phi nghĩa
     Việc xác định chính nghĩa hay phi nghĩa của một cuộc chiến tranh phải có căn cứ khách quan, khoa học. Căn cứ cơ bản nhất là ở mục đích chính trị của mỗi bên tham chiến. Mục đích áp đặt chế độ lệ thuộc, thôn tính một dân tộc có chủ quyền, hợp hiến pháp quốc tế thì thuộc phi nghĩa và ngược lại là chính nghĩa.
      Cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 nằm trong mục tiêu phục vụ mộng bá quyền nước lớn, bắt Việt Nam phải lệ thuộc, phụ thuộc… là phi nghĩa. Cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. Bởi, phía Việt Nam là chống lại sự áp đặt, sự lệ thuộc, phụ thuộc vào Trung Quốc, bảo vệ hòa bình, độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, đi lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại hiện nay.
      Với dân tộc Việt Nam, hòa bình, hòa hiếu với các nước láng giềng; độc lập tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ là truyền thống lâu đời. Con người Việt Nam căm ghét chiến tranh, không bao giờ đi xâm lược nước khác. Tuy nhiên, con người Việt Nam cũng không cúi đầu khuất phục trước bất cứ một thế lực, một đội quân xâm lược nào, mà sẵn sàng tiến hành chiến tranh "chính nghĩa, tự vệ chính đáng" một cách kiên cường, dũng cảm để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền dân tộc. Cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 của Việt Nam cũng nằm trong tiến trình logic lịch sử ấy và là chính nghĩa, chính đáng, phù hợp với xu thế lịch sử.
       Một lẽ thông thường là đối với dân tộc nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng bắt buộc phải tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân, đế quốc để có hòa bình đã thể hiện tính chất chính nghĩa một cách rõ ràng. Việt Nam có hòa bình và không bao lâu thì lại phải tiến hành chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 càng cho thấy tính chính nghĩa, mà công luận tiến bộ thế giới đã thừa nhận.
      Trước tòa án lương tâm, lương tri của nhân loại, cuộc chiến tranh do Trung Quốc xâm lược Việt Nam tháng 2/1979 là vô nhân đạo, phản nhân văn. Một nước lớn, cậy đông dân, tiềm lực kinh tế, quân sự lớn gấp nhiều lần, tự xưng là một nước xã hội chủ nghĩa mà tiến hành xâm lược Việt Nam, một nước nhỏ, láng giềng, luôn muốn giữ hòa bình, hòa hiếu thì cả những con người ít hiểu biết cũng khó chấp nhận.
      Quân Trung Quốc tiến đến đâu đều phá phách tất cả cơ sở hạ tầng; giết biết bao người dân vô tội, để lại sự hoang tàn ở tất cả các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam là một sự nhẫn tâm vô cùng lớn. Những nhân chứng, vật chứng, đặc biệt là các quân nhân tham gia chiến tranh của cả hai bên không thể phai mờ trong tâm tưởng.
Dù có bao biện, che đậy hay tuyên truyền trên các thông tin đại chúng bằng các cách gọi "dạy cho Việt Nam một bài học; Việt Nam là tiểu bá…" hay vin vào các nguyên cớ này, khác thì cũng không thể làm đảo lộn được chân lý thời đại, đổi phi nghĩa thành chính nghĩa.
      Cuộc chiến tranh của Trung Quốc xâm lược Việt Nam tháng 2/1979 gây tổn thất rất lớn cho cả hai bên. Sự thất bại trong cuộc chiến tranh này khiến Trung Quốc tụ rút ra bài học cho mình. Đối với Việt Nam, bài học lớn là luôn cảnh giác trong bất kỳ trường hợp nào. Bài học này còn có thể cảnh tỉnh đối với các nước trên thế giới, chỉ có con đường hợp tác hòa bình, vì lợi ích chính đáng của các bên, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau mới là con đường bền vững, lâu dài, phù hợp với mong muốn của nhân loại tiến bộ.

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2019

Phải chăng chủ nghĩa tư bản ngày nay đã thay đổi bản chất?

                                                                             NHN

       Tác động KHKT ngày nay tới đời sống kinh tế xã hội vô cùng mạnh mẽ, KHKT trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp…, từ tác động ấy, một số phần tử lớn tiếng rêu rao rằng: chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất nhờ việc ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ vào trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo đó, trong phương thức sản xuất tư bản ngày nay không còn hiện tượng người bóc lột người, xã hội tư bản là xã hội tiến bộ nhất trong lịch sự nhân loại mà loài người cần hướng đến.
        Thực ra, những giọng điệu tuyên truyền đó vẫn không có gì mới và xa lạ đối với chúng ta. Về bản chất chúng vẫn theo những lối mòn cũ muốn phủ định giá trị vĩnh hằng của chủ nghĩa Mác - Lênin, và tạo cảm giác mơ hồ cho những người cộng sản trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.
        Nhìn nhận về vấn đề này, Đảng ta khi bàn về chủ nghĩa tư bản ngày nay, đã khẳng định “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.”. Những nhận định trên của Đảng ta được dựa trên một nền tảng vững chắc là chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản để Đảng đưa ra những đánh giá hết sức khoa học về chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay.
       Các nhà kinh điển C.Mác và Ăng ghen khi phân tích về chủ nghĩa tư bản đã chỉ ra: từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã cho con người thấy tính ưu việt của nó. Theo C.Mác, Ăng ghen, đó là một bước tiến vĩ đại về phía trước trên những con đường phát triển của xã hội loài người. Nhưng chủ nghĩa tư bản không phải là hình thái xã hội vĩnh hằng, khi nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hóa thì sẽ bị hình thái xã hội thích ứng được với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất mới thay thế. Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen, nghiên cứu CNTB từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền, Lênin đã chỉ ra bản chất kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa tư bản độc quyền, Lênin còn khẳng định sự phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Theo cách nói của Lênin, hiện nay trong chủ nghĩa tư bản khuynh hướng “phát triển vô cùng nhanh” nổi trội hơn so với khuynh hướng ngừng trệ, thối nát vốn có của nó. Lênin cũng chỉ ra, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vẫn còn nhiều tiền năng phát triển, song đó là sự phát triển trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản và tiềm năng phát triển đó không phải là vô hạn. Càng phát triển, mâu thuẫn càng sâu sắc phức tạp.
       Trải qua quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản ngày nay đã có những bước phát triển mới. Phương thức sản xuất này vẫn tỏ ra vẫn còn sức sống nhất định, mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản hiện không quyết liệt đến mức dẫn tới tình thế cách mạng. Bên cạnh đó, chúng ta thật sự “chưa đánh giá hết khả năng co giãn của cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa, cũng như tính linh hoạt của những người kinh doanh tư bản biết di động, tiến thoái, đồng thời vẫn còn giữ được vị trí của họ”. Thấy rõ được những sự biến đổi mới của chủ nghĩa tư bản, Đảng ta đã nhận định “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển”. Vậy phải chăng những biến đổi mới, những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với việc quay trở lại thời kỳ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn đang phù hợp với lực lượng sản xuất hiện đại? Câu hỏi này đụng đến một vấn đề lý luận khá phức tạp: mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dưới tư bản chủ nghĩa mang tính đặc thù, khác với mâu thuẫn này trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản. Nếu như dưới các chế độ trước chủ nghĩa tư bản, một khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó “ kìm hãm” sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mặc dù không thuận lợi, song lực lượng sản xuất mới với công nghệ mới vẫn ra đời trong lòng xã hội phong kiến nhưng chỉ phát triển đột biến, bùng nổ sau khi nó phá tan quan hệ sản xuất cũ và kiến trúc thượng tầng cũ. Dưới chủ nghĩa tư bản, khi đã mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất vẫn có thời kỳ phát triển bùng nổ, mặc dù phát triển xen kẽ với khủng hoảng, trì trệ, phát triển dẫn đến những hậu quả kinh tế - xã hội chống lại bản thân sự phát triển như phân hóa giàu nghèo, phá hoại môi trường sinh thái…Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có tính linh hoạt cao hơn nhiều so với các quan hệ sản xuất trước đó. Đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản “Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất. Trái lại đối với tất cả giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện kiên quyết cho sự tồn tại của họ. Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng trong tất cả các quan hệ xã hội…làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước”. Vì vậy, ngay khi đã mâu thuẫn sâu sắc với lực lượng sản xuất nó vẫn chưa hết khả năng tự “co dãn”, tự điều chỉnh để thích nghi với lực lượng sản xuất mới, qua đó thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển trong thời kỳ nhất định.
      Tuy nhiên, cho dù có điều chỉnh như thế nào đi nữa, cho dù có khoác trên mình những “tấm áo choàng lộng lẫy” như thế nào đi nữa thì bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không hề thay đổi, đúng như nhận định của Đảng ta “về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”. Sự áp bức, bất công đó thông qua sự thống trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền, của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Sự thống trị đó không chỉ đóng khung trong từng quốc gia, dân tộc mà được quốc tế hóa hơn bao giờ hết. Sự áp bức, bóc lột được che đậy dưới nhiều hình thức khác nhau và ngày càng mang tính chất tinh vi hơn trước; hình thức bóc lột cũng luôn có sự thay đổi dựa trên việc áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Sự bóc lột vượt khỏi biên giới quốc gia và được triển khai trên phạm vi quốc tế thông qua nhiều hình thức.
      Dù có điều chỉnh thích nghi nhưng chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn không thể vượt qua khỏi mâu thuẫn vốn có của nó. Những mâu thuẫn đó bản thân nó không thể giải quyết triệt để trong khuôn khổ, trật tự tư bản chủ nghĩa, đó chính là“mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa”, mà theo đánh giá của Đảng ta “Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc”. Mâu thuẫn đó được biểu biện cụ thể ra là mâu thuẫn giữa sản xuất có khả năng vô hạn và tiêu dùng có khả năng thanh toán bị hạn chế, giữa tư bản và người lao động làm thuê, giữa tư bản và tư bản, trong một nước và trên phạm vi quốc tế, giữa các nước tư bản với nhau, giữa các nước tư bản với các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, các mâu thuẫn mới cũng ngày càng thể hiện rõ nét đó là mâu thuẫn giữa sức sản xuất có khả năng phát triển vô hạn với sự giới hạn của các nguồn tài nguyên và môi trường, giữa nhu cầu nhất thể hóa và toàn cầu hóa với lợi ích của từng quốc gia và của toàn bộ cộng đồng các nước, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu khi chuyển đổi cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Tính gay gắt của các mâu thuẫn hiện nay thể hiện nổi bật ở những giới hạn mà chủ nghĩa tư bản đang vấp phải trong cùng một lúc chưa từng thấy. Đó là, tài nguyên hạn chế trong khi lực lượng sản xuất có khả năng phát triển vô hạn; guồng máy sản xuất có khả năng mở rộng không ngừng trong khi khả năng thanh toán vẫn còn bị hạn chế; tốc độ tăng năng suất lao động và tăng trưởng nói chung không thể cao và vẫn còn nguy cơ thấp; bất bình đẳng xã hội gia tăng trên phạm vi quốc gia và quốc tế với nguy cơ ngày càng trầm trọng; khủng hoảng kinh tế và tính không ổn định trên nhiều lĩnh vực; những mặt trái trên các lĩnh vực văn hóa, đạo đức chính trị, tình trạng bạo lực, tội phạm, xung đột sắc tộc tôn giáo có nguy cơ phát triển trầm trọng, khó lường.

      Những giới hạn không thể vượt qua trên cho thấy, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn đang và sẽ tiếp tục phải đổi mặt với những nguy cơ của khủng hoảng về kinh tế, xã hội, chính trị thậm trí nguy cơ một cuộc khủng hoảng toàn diện mới có thể xuất hiện. Do vậy, Đảng ta nhận định “Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản”[6]. Như vậy có thể thấy rằng, chủ nghĩa tư bản hiện đại trong khi chưa phát triển đến giai đoạn diệt vong gần kề nó đang tiếp tục tiến triển một cách khách quan đến một xã hội khác cao hơn, bất chấp ý nguyện chủ quan của bất cứ lực lượng xã hội nào và do đó trong lòng nó đang chín muồi dần không chỉ những tiền đề vật chất, kỹ thuật mà cả những mầm mống, những yếu tố nhiều mặt, những điều kiện ngày càng đầy đủ hơn cho sự ra đời xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.

Ba que...