Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

THIÊNG LIÊNG CON LẠC CHÁU HỒNG

                                                                                       Nguyễn Hữu Nghị

       "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi", ai là con dân đất việt mà chẳng thấu hiểu câu nói đó của Bác Hồ. Dân tộc Việt Nam hình thành sớm, ý thức đoàn kết cùng chung lưng đấu cật đấu tranh chống ngoại xâm, chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển, xây dựng nên những nền văn hóa, văn minh phát triển rực rỡ. Để non sông gấm vóc có hòa bình, thống nhất, ấm no như ngày hôm nay có một sự đóng góp to lớn của các dân tộc thiểu số anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
       Từ thế kỷ XI trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 chúng ta còn nhớ tới những vị thủ lĩnh miền biên viễn như Vi Thủ An, Thân Cảnh Phúc, Tông Đản đã cùng đồng bào dân tộc thiểu số góp bao xương máu để bảo vệ từng tấc đất, từng thước núi của non sông. Rồi đến 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông có ai quên được những vị tù trưởng Hà Bổng, Hà Đạt cùng các nghĩa binh của mình sẵn sàng xông pha nơi hòn tên mũi đạn tiêu diệt quân thù. Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn thế kỷ XVII với sự tham gia đông đảo của đồng bào Chăm, đồng bào Thượng, đồng bào Khme để 5 vạn quân Xiêm cùng 29 vạn quân Thanh phải bạt vía kinh hồn. Thế kỷ XX trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đồng bào dân tộc thiểu số từ Tây Bắc đến Việt Bắc, Từ Tây Nguyên đến Nam bộ luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ, theo cách mạng, ủng hộ biết bao sức người, sức của, lương thực, thực phẩm…hình ảnh anh hùng Núp và làng Kông Hoa kiên cường chống Pháp, rồi những vị thủ lĩnh người dân tộc thiểu số Pi Năng Tắc, Pi Năng Thạch là những biểu tượng sáng ngời về ý thức Việt, dân tộc Việt cùng một cội nguồn, cùng một tổ tiên.
       Ngày nay, trong độc lập, hòa bình các dân tộc cùng bình đẳng dựng xây đất nước, bao thôn bản ấm no, với trường học, trạm xá, đường giao thông khang trang thuận tiện, bao cán bộ (và không ít cán bộ nữ) người dân tộc thiểu số giữ chức trách cương vị khác nhau từ trung ương đến địa phương thể hiện sự chăm lo, quan tâm của Đảng với đồng bào dân tộc thiểu số. tỉnh nào, huyện nào có đồng bào dân tộc là có trường dân tộc nội trú. Còn trung ương có 2 trường dự bị dân tộc là nơi tạo nguồn sinh viên cho các trường đại học từ con em đồng bào dân tộc thiểu số - nguồn cán bộ tương lai của đất nước.
      Đó là thực tiễn sống động trên khắp các vùng miền của đất nước ta, ấy vậy mà ở nơi này, nơi khác vẫn luôn có những tiếng nói lạc điệu, sẵn sàng đổi trắng thay đen vì những động cơ đê hèn thậm chí vì những đồng tiền bẩn thỉu sẵn sàng bán lương tâm cho quỷ dữ, lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin phát tán tài liệu phản động, viết những tin bài bóp méo trắng trợn sự thật và viết một cách ngây ngô đến những đứa trẻ cũng không thể tin được, như tác giả lấy tên Ama Thanh trong bài viết Bao giờ thì hết phân biệt với người thiểu số? ngày 1/10/2011 ở blog danlambao.vn………..viết rằng: khi người Kinh và người dân tộc thiểu số vào bệnh viện thì người Kinh sẽ được ưu tiên chữa trị, nếu vậy Nhà nước có cần xây trạm xá, có cần tăng cường y bác sĩ về thôn bản không? Nhất là những địa phương có 100% đồng bào thiểu số sinh sống? Ama Thanh viết tiếp: tiền từ người thân của đồng bào dân tộc thiểu số gửi từ nước ngoài về họ không nhận được, vì công an không cho nhận và công an lấy mất. Điều này thật lố bịch và hài hước vì tác giả chỉ viết vu vơ từ động cơ cá nhân của mình mà không đưa ra được dẫn chứng cụ thể: ai, ở đâu, khi nào bị gây khó dễ khi đi nhận tiền gửi từ nước ngoài về. Từ thực tế chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để lượng kiều hối từ nước ngoài chuyển về góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho đất nước.
       Lố bịch hơn nữa, Ama Thanh viết: Chuyn đi nhà th người Kinh thì đi nhà th ch nào cũng được nhưng người dân tc t buôn này mà đi nhà th buôn khác công an biết được là bt pht tin. Nhiu buôn không có nhà th phi lén lén mi đi nhà th được. Đi v tht khuya sm thì không b công an bt được.  Chuyn đi thăm bà con h hàng: không biết người Kinh thì sao ch người dân tc mun t Daklak qua bên Daknong thì phi có giy đi đường ca công an huyn thì mi được đi thăm
       Với chính sách tự do tôn giáo, mọi tôn giáo, tín ngưỡng đều được tôn trọng và bình đẳng, biết bao phái đoàn nhân quyền đến Việt Nam, đến với những nơi họ cho rằng "có vấn đề về tôn giáo" thì họ cũng phải thừa nhận trước công luận thế giới Việt Nam là một nước tự do tôn giáo! Còn chuyện đi lai, thăm bà con họ hàng, nếu là người Việt Nam thì dù là ai, thuộc dân tộc nào cũng có thể đi khắp đất nước, đó là điều hiển nhiên như không khí dùng để thở vậy. Mỗi một ngày biết bao nhiêu triệu người Việt Nam đi lại khắp đất nước, và không ít trong số họ là đồng bào dân tộc thiểu số, vậy phải cần bao nhiêu công an để kiểm tra giấy đi đường hả ông Ama Thanh?
      Nếu không có khối đại đoàn kết dân tộc, nhân dân ta đã không thể vượt qua bao thử thách và biến thế kỷ XX của mình thành huyền thoại, và giờ đây chúng ta luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Tuy nhiên các thế lực thù địch phản động đã và đang lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta thông qua Diễn biến hòa bình, nhưng trong lịch sử chúng đã từng thất bại thông qua cái gọi là Xứ Mường tự trị, Xứ Thái tự trị, Người Thượng tự trị…thì giờ đây với chiêu bài cũ chúng những hòng lập ra nhà nước Tin lành Vàng Chứ, Tin Lành Đề Ga, Khme Crom…cũng chỉ là đi theo vết xe đổ quá khứ mà thôi.

      Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” của các thế lực thù địch phản động không phải là mới nhưng chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và sự thật vẫn là sự thật, bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt. Ý thức chung một cội nguồn, chung một tổ tiên luôn là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam!

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975: MỘT DÂN TỘC, MỘT Ý CHÍ, MỘT KHÁT VỌNG

                                            2//, Th.S Nguyễn Hữu Nghị
                                          PCN Khoa VHNN

        Trên thế giới có biết bao dân tộc nhưng chắc sẽ không có nhiều dân tộc như dân tộc Việt Nam, quá trình dựng nước, mở mang bờ cõi luôn gắn liền với quá trình chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất qua mấy ngàn năm lịch sử. Đất mẹ yêu thương đã bao lần chứng kiến sự phân ly, cát cứ: hàng ngàn năm Bắc thuộc biến nước ta thành các châu, quận của đế chế phương Bắc với âm mưu đồng hóa, đến thời phong kiến Trịnh - Nguyễn phân tranh đất nước cũng chia cắt ngót 200 năm Đàng ngoài và Đàng trong vì quyền lợi của các tập đoàn phong kiến cát cứ với giới tuyến sông Gianh. Thời cận hiện đại, hết thực dân Pháp xâm lược chia cắt đất nước ta thành ba kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau, lại đến đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược, chia cắt đất nước để cả dân tộc ta lại đứng lên tiến hành cuộc trường chinh lịch sử qua 21 năm kháng chiến.
        Nhìn lại tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta thấy một đặc điểm nổi trội: xu thế thống nhất luôn thắng thế xu hướng phân tán và ý thức nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một không bao giờ thay đổi. Vậy sức mạnh nào, ý chí nào đã đưa dân tộc Việt Nam vượt qua bao sóng gió, thác ghềnh để cùng sánh vai tiến bước cùng nhân loại? Đó là ý chí bất khuất của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ cam chịu làm nô nệ, là khát vọng "không có gì quý hơn độc lập, tự do" để làm nên những huyền thoại.
       Hành trình từ Cách mạng Tháng tám đến Đại thắng Mùa xuân 1975 là một trong những minh chứng sinh động nhất cho khát vọng tự do, thống nhất của dân tộc Việt Nam về chủ quyền, độc lập, tự do, là quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền của cách mạng Việt Nam mà Cách mạng Tháng tám đã xác lập. Lê nin, vị lãnh tụ thiên tài của phong trào cộng sản thế giới đã từng nói "giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều". Khi Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng tám được một Đảng còn noi trẻ mới 15 tuổi dẫn dắt thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - nhà nước công nông đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á thì một số nhà sử học tư sản phương Tây với góc nhìn thiển cận cho rằng đó là một cuộc cách mạng ăn may, chúng ta không có sức mạnh, không dựa vào quần chúng nhân dân, rằng chúng ta giành chính quyền khi phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh, thực dân Pháp chưa kịp ngóc đầu dậy, quân đồng minh chưa kịp vào, chính quyền tay sai đang hoang mang, dao động…và cứ thế Việt Minh giành lấy chính quyền. Nếu không có sức mạnh, không có ý chí, không có đoàn kết toàn dân tộc chúng ta có thể giữ được nền độc lập ấy không? Hành trình 30 năm bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng tám 1945 - 1975 với biết bao sức người, sức của, biết bao xương máu của những liệt sĩ anh hùng, những bà mẹ việt nam anh hùng thể hiện cho ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam.
        Từ mùa thu Tháng tám lịch sử, sau gần một thế kỷ chìm đắm trong nô lệ dưới ách xâm lược của thực dân Pháp, khi thời cơ cách mạng chín muồi thì quyết tâm của Đảng, của toàn thể dân tộc ta: "dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập", với quyết tâm: "chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Khát vọng tự do của cả dân tộc đã trở thành hiện thực, tuy nhiên hành trình bảo vệ thành quả độc lập, tự do ấy đã sớm phải đối mặt với những thách thức to lớn khi thực dân Pháp chưa từ bỏ dã tâm quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, hòng dùng sức mạnh quân sự khuất phục dân tộc ta.
       Là dân tộc yêu chuộng hòa bình, chúng ta đã tìm mọi cơ hội để đưa đất nước thoát khỏi cảnh chiến tranh chống xâm lược, thể hiện thiện chí xây dựng nền hòa bình, quan hệ hòa hiếu với chính kẻ đã xâm lược chúng ta - thực dân Pháp. Thiện chí ấy đã bị đáp lại bằng chính sách ngoại giao pháo hạm, chủ nghĩa sen đầm quốc tế. Từ xuất phát điểm thực trạng đất nước những năm 1945, 1946 với nạn đói, nạn dốt trầm trọng, thù trong giặc ngoài, tài chính trống rỗng, chính quyền, quân đội non trẻ, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp với niềm tin vào ý chí và sức mạnh tinh thần tuyệt đối cùng lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Nay tuy châu chấu đá voi
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra
         Chín năm kháng chiến chống Pháp với thế trận chiến tranh nhân dân, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, dân tộc ta đi từ chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 đến chiến thắng Biên giới 1950 và đặc biệt là chiến thắng Điện Phủ chấn động năm châu, rung động địa cầu đã chứng minh cho khát vọng tự do, sức mạnh đoàn kết và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam dù chúng ta phải đổ biết bao xương máu. Thành quả của Cách mạng Tháng tám, năng lực giành và giữ chính quyền của Đảng, nhân dân ta đã từng bước được khẳng định cho dù mới giải phóng được một nửa đất nước.
       Bài học thất bại cay đắng của thực dân Pháp đã không đủ để ngăn trở tham vọng bá chủ thế giới của đế quốc Mỹ, thành quả của Cách mạng Tháng tám lại đứng trước thử thách lớn lao khi Mỹ can thiệp và nhảy vào miền Nam Việt Nam: 5 đời tổng thống Mỹ, 4 chiến lược chiến tranh, tiêu tốn 676 tỉ USD, hơn 7 triệu tấn bom đạn đã trút xuống Việt Nam (bằng 3 lần số bom đạn Mỹ dùng trong chiến tranh thế giới thứ II, 12 lần Mỹ dùng trong chiến tranh Triều Tiên) cùng hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ đã trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam với những vũ khí tối tân, hiện đại nhất thế giới nhưng đế quốc Mỹ đã đánh giá sai lầm về sức mạnh, tinh thần đoàn kết và ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta đã phải đương đầu với một cuộc chiến tranh dài ngày nhất, ác liệt nhất, dã man nhất trong lịch sử dân tộc. Đây cũng chính là thời khắc chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy cao độ, Việt Nam là đỉnh cao đại diện cho lương tri hòa bình của cách mạng thế giới chống lại thế lực đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đó đã lay động, thức tỉnh lương tri toàn thể nhân loại tiến bộ để rồi biết bao thanh niên thế giới mang một ước mơ cháy bỏng "sau một giấc ngủ tỉnh dậy trở thành người Việt Nam", và rằng "ở Việt Nam, ra ngõ là gặp anh hùng".
       Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khát vọng độc lập, tự do là động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc cả dân tộc đứng lên chiến đấu  với ý chí sắt đá và quyết tâm không gì lay chuyển được "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do"[1]
       Cuộc trường chinh hùng tráng của dân tộc đã kết thúc ở Mùa xuân toàn thắng, lịch sử dân tộc Việt Nam 1945 - 1975 đã khẳng định hoàn toàn chúng ta đủ khả năng, đủ sức mạnh giành và giữ chính quyền. Như lời khẳng định của cố Tổng bí thư Trường Chinh: Đó là thắng lợi to lớn, toàn diện và triệt để của 30 năm chiến tranh giải phóng, một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc ta. Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự kế tục và phát triển cao độ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng tám và của cuộc kháng chiến chống Pháp, là thắng lợi triệt để của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh quyết liệt để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước ta. .
       30 năm hành trình qua 2 cuộc kháng chiến và kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 chính là biểu hiện sinh động sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân từ Nam chí Bắc, từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến rừng núi, bao gồm mọi giai cấp cách mạng, mọi tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng. Với sức mạnh đoàn kết ấy, dân tộc ta đã bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng tám năm 1945, dân tộc ta đã đập tan mọi lực lượng của kẻ thù, quét sạch cả bọn cướp nước và bọn bán nước, giải phóng hoàn toàn Tổ quốc thân yêu.
       30 năm đấu tranh bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng tám chính là sự tiếp nối chủ nghĩa yêu nước được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oanh liệt. 40 năm đã trôi qua kể từ Đại thắng mùa Xuân 1975, từ thành quả độc lập, tự do, non sông gấm vóc thống nhất mà biết bao xương máu cha anh đã đổ xuống, dân tộc ta bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập sâu rộng, toàn diện với khu vực và thế giới. Đặc biệt, qua 30 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội đất nước thay đổi toàn diện với những thành quả to lớn. Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, niềm tin tưởng, hy vọng của nhân dân tiếp tục được củng cố, tăng cường cho dù thời gian qua các thế lực thù địch bằng thủ đoạn "diễn biến hòa bình" ra sức chống phá cách mạng nước ta cũng như hành động khiêu khích, vi phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ nước ta của Trung Quốc hồi tháng 5 năm 2014 khi hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển nước ta gây ra những thách thức về phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, chủ quyền quốc gia, nhưng với truyền thống lịch sử cha ông và tinh thần của mùa Xuân đại thắng, nhân dân Việt Nam vẫn vững tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp đổi mới, với những thành tựu to lớn và vững chắc hơn. Đảng sẽ đem đến cho dân tộc những "mùa đại thắng" trong sự nghiệp xây dựng đất nước tương lai.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 108

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC KHOA GIÁO VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                Tác giả: Nguyễn Hữu Nghị
Trong bối cảnh tình hình thế giới những năm qua diễn biến hết sức phức tạp, khó lường:  xung đột khu vực vẫn diễn ra gay gắt ở nhiều nơi, chủ nghĩa khủng bố thách thức an ninh toàn cầu, sự  xuất hiện và tàn bạo của nhà nước Hồi giáo tự xưng IS, còn ở Việt Nam các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và “xâm lăng văn hoá” nhằm xoá bỏ chế độ XHCN và bản sắc văn hoá Việt Nam, đặc biệt trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước ra sức xuyên tạc, phủ định, hòng xoá bỏ Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng huy động tối đa phương tiện thông tin đại chúng lợi dụng những sự kiện lớn của đất nước và một số hạn chế, yếu kém của ta trong quản lý, điều hành để xuyên tạc, quy chụp, kích động, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội, công an và nhân dân (như những vụ án tham nhũng, xét xử oan sai lớn những năm qua).
Trên lĩnh vực báo chí, xuất bản: Lợi dụng công nghệ thông tin để tuyên truyền, phát tán các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung xấu; truyền bá những quan điểm sai trái làm nóng lên những vấn đề của đất nước, tạo bức xúc, nghi ngờ, kích động gây rối, bạo loạn, lật đổ (như vấn đề thư ngỏ của nhóm 61; khối tài sản khổng lồ của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Xuân Truyền, vấn đề Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 xuống vùng đặc quyền kinh tế của nước ta).
Các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền cho cái gọi là tự do, dân chủ ở phương Tây. Vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo: Mỹ và phương tây cũng như một số tổ chức quốc tế có những ủng hộ, kích động những hành động chống đối của những đối tượng cơ hội chính trị nhằm khuyến khích tư tưởng ly khai, xây dựng lực lượng đối trọng với chính quyền.
Trước sự nguy hiểm khôn lường từ chiến lược “diễn biến hoà bình” của cá thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá và những âm mưu, thủ đoạn của chúng,  Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường cùng cơ quan Phòng Chính trị đã nhanh chóng thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo toàn Trường thực hiện công tác phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá quyết liệt và hiệu quả, đặc biệt là vai trò của các khoa giáo viên. Các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân đội về công tác chống diễn biến hòa bình được cập nhật, quán triệt kịp thời tới các đầu mối trực thuộc Nhà trường. Trên cơ sở đó, các đầu mối trực thuộc nhanh chóng xây dựng kế hoạch đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của đơn vị mình theo Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương và Kế hoạch số 466-KH/ĐU của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Kế hoạch số 1521 - KH/ĐU ngày 05/10/2009 của Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị. Trên cơ sở đó, chủ động tổ chức tốt việc giáo dục, quán triệt và triển khai cho các lực lượng thực hiện nghiêm túc.
Các khoa giáo viên đã tổ chức giáo dục, quán triệt nghiêm túc, có chất lượng đến 100% cán bộ, giảng viên, nhân viên khoa mình toàn văn “ Đề cương tuyên truyền Chỉ thị 34 - CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” do vậy đã nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên về âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá; kết quả đấu tranh của ta thời gian qua và quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, các giải pháp để chống lại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới.
Các khoa giáo viên xây dựng và triển khai kế hoạch đấu tranh chống "diễn biến hòa bình"  phù hợp với đặc điểm, tính chất, nhiệm vụ như viết bài, gửi đăng báo, tạp chí, tham gia Blogger, tuyên truyền cho đối tượng học viên qua các bài giảng ở trên lớp…một cách thiết thực, hiệu quả. Bên cạnh đó, đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các khoa luôn đặc biệt quan tâm tới công tác chính trị, tư tưởng, từ đó bồi dưỡng ý chí kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đội ngũ giảng viên.
Trong các buổi sinh hoạt khoa, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt các tổ chức quần chúng, công tác chống diễn biến hòa bình luôn được lồng ghép để tuyên truyền hiệu quả, gắn trách nhiệm của người đảng viên, giảng viên trong quá trình lên lớp cần tuyên truyền có hiệu quả  công tác đấu tranh phòng chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa tới đối tượng học viên. Đội ngũ giảng viên thực sự là những tấm gương chấp hành và thực hiện tốt Quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, không để lộ, lọt thông tin quân sự ra bên ngoài.
Các Khoa giáo viên triển khai thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chú trọng khâu “làm theo”, "nêu gương" bằng các tiêu chí cụ thể, thiết thực nhằm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng yêu thương con người, lối sống trung thực, giản dị, cần kiệm, liêm chính, đề cao ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ; qua đó tạo nền tảng chính trị tinh thần phòng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng.
           Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, “Phi chính trị hóa quân đội”.
          Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa còn có những hạn chế cần khắc phục:
         Do nhiệm vụ chuyên môn chi phối thời gian lên công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, họat động "diễn biến hòa bình"  ở các khoa giáo viên có những thời điểm chững lại; nội dung, hình thức chưa phong phú. (chủ yếu là một số đồng chí tham gia lực lượng blogger Nhà trường tích cực viết bài đấu tranh).
Công tác tuyên truyền nhận thức và đấu tranh chống diễn biến hòa bình thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp ở một số khoa hạn chế do đặc thù nội dung môn học (như các khoa Bắn súng, Quân Sự, Giáo dục thể chất).
Trong thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch sẽ vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, văn hoá. chúng coi đây là vấn đề tập trung chống phá - nhất là trong thời điểm Đảng ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII. Vì vậy, việc phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá ở Nhà trường nói chung, ở các khoa nói  riêng cần thực hiện tốt một số nội dung và giải pháp sau:
Thường xuyên kiện toàn Ban chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá các cấp.
          Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ giảng viên Nhà trường; đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong đơn vị; giữ vững và tăng cuờng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
          Nắm chắc tư tưởng đội ngũ giảng viên, không để bị bất ngờ về tư tưởng.
          Đẩy mạnh triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đi sâu vào hiệu quả thực chất.
          Xây dựng khối đoàn kết vững  chắc trong Nhà trường, nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật của quân đội, các quy định của Nhà trường của đội ngũ giảng viên và các đối tượng khác trong toàn Trường, không để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động ảnh hưởng đến đơn vị; chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”. Đẩy mạnh công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật ở các đơn vị.

          Phát huy thế mạnh là một trung tâm khoa học xã hội nhân văn của quân đội, đội ngũ giảng viên Nhà trường đã và đang phát huy vai trò tiên phong trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình. Thông  qua hoạt động giảng bài trên lớp tuyên truyền, lồng ghép nội dung chống diễn biến hòa bình tới đối tượng học viên một cách thiết thực, hiệu quả. Phát huy trí tuệ nguồn nhân lực đấu tranh qua blogger, tạo thành một làn sóng đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa mạnh mẽ, lan tỏa rộng khắp. Qua đó góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị của đất nước.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

GỬI NHÓM "THƯ NGỎ 61"

      Người Việt Nam có câu "ăn cây nào, rào cây ấy", với người dân lao động ít có điều kiện học hành, giao lưu là một nhẽ, đằng này các ông được tiếng là những người có học sao lai có cách hành xử chưa khỏi vòng đã cong đuôi như vậy? các ông ăn cơm gạo từ đâu?
 tổ tiên, nguồn cội của các ông là ai? các ông đã thuyết giảng đạo đức cho bao nhiêu người để rồi vì cái gì mà các ông lại xúm nhau vào nói xấu Đảng, xuyên tạc công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta ngày nay?
      Các ông nói Đảng CSVN dẫn dắt dân tộc đi theo con đường sai lầm, vậy là người Việt Nam các ông hẳn còn nhớ và nhớ rất rõ khi đất nước bị thực dân phương Tây xâm lược, dày xéo từ giữa thế kỷ XIX thì ngọn cờ phong kiến và ngọn cờ tư sản đã bất lực, bế tắc như thế nào? và chỉ có con đường nào mới có thể đưa chúng ta đến độc lập, tự do thưa các ông?
     Không nói các ông cũng biết, chúng ta đi theo con đường CNXH nhưng đầy tính sáng tạo, vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn của đất nước, chúng ta đủ tỉnh táo để lựa chon con đường cho mình khi đi lên xã hội hiện đại.
     Trung thành với nguyên lý Chủ nghĩa Mác - Lê nin nhưng trong vận động giải phóng dân tộc chúng ta đâu có áp dụng máy móc lý thuyết là phải chờ cách mạng chính quốc thành công mới làm cách mạng thuộc địa. Đến năm 1954 chúng ta đã quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội khi một nửa đất nước còn chưa được giải phóng, trên thế giới có tiền lệ nào chưa thưa các ông nhóm 61?
     Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một con đường dài, đầy khó khăn, chông gai, thử thách và sẽ không tránh khỏi sai lầm nhưng đừng vì thế mà sổ toẹt, mà phủ nhận những thành quả to lớn mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được.
     Những luận điệu các ông đưa ra cũng không có gì là mới cả, cũng chỉ là hùa theo các thế lực phản động chống  phá cách mạng nước ta hòng bôi xấu Đảng trước  kỳ đại hội tới. Những trò lố của các ông không đảng viên chân chính nào ko nhận ra cả, hy vọng các ông là con dân nước Việt hãy giữ lấy chút liêm sỉ để con cháu các ông co thể ngẩng mặt mà sống với đời!
                                                               Nguyễn Hữu Nghị

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – TÀI SẢN TINH THẦN VÔ GIÁ, MÃI MÃI SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI



                                                    Trung tá, Th.S  Nguyễn Hữu Nghị
                                                     PCN khoa Văn hoá - Ngoại ngữ, Trường SQCT
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một bản Di chúc vô cùng quý báu. Di chúc được công bố ngay sau khi Bác qua đời và trở thành một nguồn cổ vũ động viên lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước và đưa nước nhà vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Di chúc của Người là tài sản vô giá, là sự đúc kết những giá trị tư tưởng lớn lao, là ánh sáng diệu kỳ khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, mãi mãi soi sáng và định hướng đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam phải đi và phải đến tới vinh quang và thắng lợi của dân tộc ta, Đảng ta.
          Trong suốt cuộc đời hoạt động, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, cống hiến vĩ đại cho dân tộc ta cho cả loài người như vậy mà ở Bác “Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[1]. Chẳng những thế Người còn căn dặn chúng ta chớ nên “điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân”[2]. Bác còn để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn Đảng, toàn dân, toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng trong nước và quốc tế. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông quá, ôm cả non sông trọn kiếp người”. Cao cả biết bao tấm lòng vì dân, vì nước của Bác, đúng đắn biết bao quan điểm và phương pháp công tác quần chúng của Bác, và cũng thật là vĩ đại biết bao, niềm tin của Bác đối với chúng ta. Có niềm tin ấy, có quan điểm và phương pháp ấy, có tấm lòng ấy, Bác và Đảng ta đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo vào Việt Nam, đã đưa cách mạng nước ta đi đến những thắng lợi rực rỡ như ngày nay. Tấm lòng nhân ái yêu thương con người ở Bác thật là trong sáng vĩ đại bao la như biển rộng sông dài. Bác căn dặn chúng ta: Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn với niềm tin tưởng vào sức mạnh của đoàn kết dân tộc, tin vào tương lai của dân tộc: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”[3].
          Nói về Đảng, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Bác còn chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.  
           Đối với đoàn viên và thanh niên, Bác ân cần chỉ bảo: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo thành những con người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Thể hiện sự quan tâm, săn sóc của Người đối với tương lai vận mệnh của nước nhà, và sự tin tưởng của Người đối với thế hệ trẻ những người sẽ kế tục sự nghiệp của thế hệ cha anh làm rạng danh non sông đất nước, Tổ quốc ta.   
        Bác còn dành những tình cảm trìu mến đối với mọi tầng lớp đồng bào: “nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân[4]. Bác cũng nói lên điều mong ước cuối cùng: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, và giàu mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
          Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, đinh ninh 5 lời thề của đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đọc trước anh linh của Người. Bốn mươi nhăm năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Việt Nam anh hùng đã đồng tâm hợp lực, đoàn kết một lòng, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, thử thách, phấn đấu không mệt mỏi quyết tâm biến thành hiện thực những lời chỉ bảo, ân cần, căn dặn của Bác Hồ kính yêu, nhờ đó đã giành được những thắng lợi vang dội làm rạng rỡ non sông đất nước, Tổ quốc ta. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, đưa nước ta tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa, đổi mới và hội nhập, phát triển cùng thế giới, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.              
          Lịch sử càng dần lùi xa chúng ta, giá trị hiện hữu Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng như mới đó thôi. 39 năm sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đặc biệt là 28 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua 8 kỳ Đại hội Đảng, kể từ Đại hội IV đến Đại hội XI, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn với những mục tiêu kinh tế xã hội được xác định cho từng giai đoạn cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thực hiện di huấn của Người, Đảng ta luôn coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, đồng thời ra sức xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc để: “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[5].
        Thực hiện Di chúc của Người với lời căn dặn và ước nguyện: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[6], 45 năm qua, toàn Đảng, toàn dân tộc đã đưa nước ta phát triển lên một tầm cao mới. Các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước ngày càng được củng cố, mở rộng và tăng cường tạo đà phát triển cho đất nước trong các chặng đường tiến lên. Chúng ta đã từng bước xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng cố và phát huy trong đời sống xã hội; Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ngày càng phát huy hiệu quả; xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân mà nền tảng là liên minh công nhân, nông dân, tri thức; xây dựng nền quốc phòng toàn dân với lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại để bảo vệ Tổ quốc; xây dựng một nền ngoại giao độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
          Con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là con đường đầy gian gian nan thử thách, sự nghiệp đổi mới để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng gặp không ít những gian truân, đòi hỏi chúng ta phải có ý chí quyết tâm lớn và trí tuệ cao. Những thành tựu mà chúng ta đã giành được là đáng ghi nhận và rất quan trọng, song cũng còn không ít những yếu kém và khuyết điểm cả trên hai lĩnh vực đó là phát triển kinh tế, và xây dựng Đảng. Chúng ta còn chưa làm được hoặc làm chưa đầy đủ những điều Bác Hồ căn dặn. Thông qua Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh” những năm qua, một lần nữa Đảng ta, nhân dân ta quyết tâm nhìn nhận những yếu kém và khuyết điểm để ra sức khắc phục, sửa chữa mình, phải phấn đấu hết sức mình, giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng tiến lên thực hiện lý tưởng cao đẹp của Bác Hồ. phấn đấu thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.
Cuộc đời và hoạt động của Bác là cuộc đời của một con người mà giữa tư tưởng và tấm gương đạo đức luôn có sự gắn bó nhuần nhụy. Đó là nét đặc sắc quý hiếm tạo nên bề rộng, chiều sâu và tầm cao của một trong những nhân cách vĩ đại của một thời đại, mãi mãi là nguồn ánh sáng, sức mạnh vô tận để dẫn dắt chúng ta đi tiếp con đường tới độc lập tự do và ấm no hạnh phúc. Năm 2014, kỷ niệm lần thứ 124 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 2014) và 45 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, chúng ta lại càng tự hào về thân thế, sự nghiệp và nhân cách vĩ đại của Người. Trong sự dìu dắt của Đảng, dưới ánh sáng tư tưởng của Bác, mỗi chúng ta hãy giữ cho lòng mình trong sáng, bồi đắp cho đạo đức cách mạng ngày càng thêm vững bền để tiếp tục sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đi theo con đường của Người đến đích cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam: đó vừa là ước nguyện của Người, vừa là ý Đảng, vừa là lòng dân, là điều thiêng liêng, ý nghĩa nhất  dâng lên Người nhân kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ.


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 512
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 512

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 509
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 511

[5] Văn kiện HN lần thứ 9 BCHTW khóa XI, Hà Nội, 2014, trang 47
[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, Hà Nội, 1996, trang 512

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

VỀ PHONG TRÀO LY KHAI Ở MIỀN NAM THÁI LAN THỜI GIAN GẦN ĐÂY VÀ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC



                                                                         Tác giả:  Nguyễn Hữu Nghị 
       Vấn đề bất ổn vở miền Nam Thái Lan đã tồn tại nhiều năm trong lịch sử, tuy nhiên từ năm 2001 đến nay, nó bùng phát mạnh mẽ và trở thành điểm nóng xung đột sắc tộc, tôn giáo gây mất an ninh nghiêm trọng ở miền Nam Thái Lan. Hàng ngàn người dân vô tội đã bỏ mạng, hạ tầng cơ sở bị tàn phá, kinh tế - xã hội bị ảnh hưởng…Những gì đã và đang diễn ra ở miền Nam Thái Lan có thể là bài học bổ ích cho Việt Nam cũng như nhiều quốc gia ở khu vực và trên thế giới trong việc giải quyết những bất đồng về dân tộc, tôn giáo, văn hóa...
      1.  Tình trạng bất ổn ở miền Nam Thái Lan
       Cuộc khủng hoảng ở miền Nam Thái Lan diễn ra suốt từ năm 2001 đến nay bởi những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo và những vấn đề do lịch sử để lại. Đây là vùng đất gồm các tỉnh Pattani, Yala, Narathiwat, Satun và một phần tỉnh Songkhla với dân cư tuyệt đại đa số là người Hồi giáo (khoảng 6 triệu người). Mảnh đất này vốn là địa hạt của bang Pattani, một trong những tiểu vương quốc Mã Lai cũ được sáp nhập vào Thái Lan năm 1902 sau những cuộc chiến tranh kéo dài giữa người Thái Lan và người Ma lai xi a. Cũng vì vậy, vùng đất này luôn tồn tại mâu thuẫn, xung đột giữa người Thái và người gốc Mã lai bởi những khác biệt lớn  về ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá. Đây là vấn đề không dễ giải quyết bởi dưới góc độ chính trị và kinh tế, cộng đồng người Hồi giáo miền Nam hướng về Băng Cốc nhưng về văn hoá, họ vẫn là một phần của thế giới Hồi giáo. Vùng đất này lại là vùng đất nghèo nàn và chậm phát triển nhất của Thái Lan. Cộng đồng người Hồi giáo gốc Mã lai ở khu vực này lại sống dưới một chính quyền của thiểu số người Thái theo Phật giáo (những người Hồi giáo gốc Mã lai ở miền Nam Thái Lan được tham gia chính quyền nhưng rất hạn chế).  Miền Nam Thái Lan cũng là khu vực có tỉ lệ thất nghiệp, mù chữ cao, người Hồi giáo ở đây cho rằng Chính phủ đã không công bằng với họ như đối với những người theo đạo Phật. Những điều đó đã được tích tụ, dồn nén qua nhiều thập kỷ và bùng phát thành bạo động bởi sự kích động của các nhóm Hồi giáo  ly khai cực đoan ở miền Nam Thái Lan những năm gần đây.           
       Nhận thức về sự phức tạp, nguy hiểm từ các vụ bạo động, khủng bố ở miền Nam Thái Lan, Chính phủ Thái Lan đã nhanh chóng đưa ra nhiều biện pháp nhằm bình ổn tình hình nơi đây. Tuy nhiên, bất chấp những biện pháp đàn áp quyết liệt của Chính phủ, cuộc khủng hoảng ở khu vực miền Nam Thái Lan dường như chỉ mới bắt đầu. Các nhóm Hồi giáo cực đoan ngày càng mở rộng quy mô hoạt động và nhận được sự hậu thuẫn tích cực từ các tổ chức Hồi giáo cực đoan trong khu vực cũng như trên thế giới. Những vụ tấn công của lực lượng ly khai Hồi giáo có mục tiêu rất đa dạng: các đơn vị quân đội, cảnh sát, nhân viên an ninh, dân thường, nhà sư, giáo viên…Ban đầu, vì sợ ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch (nguồn thu tài chính lớn của Thái Lan), trong suốt những năm 2002, 2003, chính phủ Thái Lan đã bưng bít thông tin về cuộc khủng hoảng và cho rằng đó chỉ là cuộc chiến của những băng đảng tội phạm tranh giành lãnh địa được sự tiếp tay của các quan chức tham nhũng.
        Nhiều nhóm ly khai hoạt động ở khu vực miền Nam Thái Lan đặc biệt là các tỉnh Pattani, Yala và Narathiwat đều có xu hướng phát triển thành các tổ chức tội phạm. Hiện có hai nhóm hoạt động vũ trang mạnh nhất là tổ chức PULO mới, được thành lập năm 1995 tách ra từ tổ chức PULO cũ được thành lập từ năm 1968 (PULO: Tổ chức giải phóng thống nhất Pattani) và phong trào Mujahideen Hồi giáo Pattani: (GMIP - Gerakan Mujahideen Islam Pattani), tổ chức này cũng được thành lập năm 1995 và có ít nhất 30 tay súng nòng cốt. lực lượng an ninh Thái Lan coi nhóm này chỉ là một băng cướp chuyên bắt cóc, tống tiền và sẵn sàng làm việc cho ai trả tiền cao hơn, phủ nhận khía cạnh chính trị của tổ chức này. Trên thực tế, GMIP không chỉ là một băng cướp đơn thuần, các thủ lĩnh của nó chịu ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Afghanistan. GMIP có móc nối và hợp tác hoạt động với KMM của Malaysia và Abu Sayyaf của Phi Lip Pin. Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, GMIP ngày càng dính líu nhiều vào các hoạt động tội phạm như bắt cóc, tống tiền, khó còn có thể gọi là lực lượng thánh chiến Jihad, nó có nhiều điểm tương đồng với nhóm khủng bố Abu Sayyaf ở Philippines. Cả GMIP và Abu Sayyaf đều là những tổ chức mới xuất hiện sau chiến tranh lạnh, các thủ lĩnh đều còn rất trẻ và đã từng chiến đấu ở Afghanistan, cùng tiêm nhiễm đầu óc cực đoan hung hăng qua những trường Hồi giáo, tư tưởng thành lập các nhà nước Hồi giáo ly khai ở khu vực. Cảnh sát Thailand đã thu được cuốn sách nhỏ 65 trang mà các thanh niên Hồi giáo ở miền Nam Thailand đã truyền tay nhau đọc với tư tưởng cực đoan, kích động các chiến binh tử vì đạo: “ Hãy hiến dâng thân thể của bạn cho đến giọt máu cuối cùng…máu sẽ chảy xuống từ thân thể các chiến binh và nhuộm đỏ mảnh đất này, phản chiếu ánh hào quang đỏ rực phía bên kia đường chân trời, vào lúc bình minh và lúc chạng vạng tối, phương Đông và phương Tây kêu gọi các chiến binh hãy tuyên bố cuộc thánh chiến Hồi giáo” (1).  Còn những thành viên của tổ chức Hồi giáo thì thề thốt “ Huy động mọi lực lượng  và phương tiện” để “Chiến đấu giải phóng mảnh đất Pattani thoát khỏi những kẻ thực dân Thái” (2).
        Cũng như Abu Sayyaf, GMIP không hoàn toàn từ bỏ tư tưởng Hồi giáo và những lợi ích bắt nguồn từ đó. Cuối năm 2001, GMIP rải truyền đơn ở các huyện thuộc tỉnh Yala kêu gọi thánh chiến và ủng hộ Osama Bin Ladel vì sự nghiệp ly khai.
        Diễn biến ở miền Nam Thái Lan cho thấy các phần tử ly khai ở khu vực này đang mở rộng địa bàn hoạt động từ 3 tỉnh Pattani, Narathiwat, Yala sang hai tỉnh cùng ở khu vực miền Nam là Songkhla và Satun. Cho dù Bộ Ngoại giao và chính phủ Thái Lan luôn khẳng định đây không phải là vấn đề có tính chất quốc tế mà là vấn đề nội bộ của Thái Lan, song trên thực tế, vấn đề bạo lực ở miền Nam Thái Lan đã thực sự gây lo ngại về sự bất ổn của khu vực. Từ tháng 12 năm 2001 đến nay đã có hơn 2000 người thiệt mạng do các vụ xung đột ở miền Nam Thái Lan gây ra.
        Đã có rất nhiều bằng chứng cho thấy cuộc nổi dậy của lực lượng Hồi giáo ly khai ở miền Nam Thái Lan có sự móc nối, và nhận được sự hỗ trợ từ các nhóm khủng bố, Hồi giáo cực đoan nước ngoài, nhất là từ Malaysia, Indonesia, Philippines thông qua các tổ chức KMM, GAM, Abu Sayyaf và Jemaah Islamiyah. Chính trùm khủng bố Hambali người Indonesia, một nhân vật từng được CIA gọi là Osama Bin Ladel của Đông Nam Á, người chỉ huy tổ chức khủng bố Jemaah Islamiyah đã bị bắt tại Thái Lan ngày 11 tháng 8 năm 2003.  Dư luận cho rằng hắn đang xây dựng một hệ thống mạng lưới khủng bố ở Thái Lan. Một số nhà phân tích quốc tế đã lo ngại rằng “Do là một bộ phận hợp thành xuyên quốc gia, một cuộc xung đột du kích căn bản ở địa phương có thể dễ dàng chuyển thành các hoạt động khủng bố cổ điển như đã từng xảy ra ở Mindanao” (4).   
       2. Những kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam và các nước trong khu vực qua các giải pháp Chính phủ Thái Lan:         
        Thứ nhất: Trước tình trạng  an ninh bất ổn và ngày càng trở nên khó kiểm soát, Chính phủ Thái Lan đã nỗ lực đưa ra hàng loạt các giải pháp cứng rắn có, mềm dẻo có, nhằm bình ổn tình hình khu vực miền Nam. Tuy nhiên, dường như Chính phủ Thái Lan chưa tìm ra được một giải pháp triệt để, toàn diện và lâu dài có thể giải quyết tận gốc rễ vấn đề.
          Để ứng phó với tình hình bất ổn ở khu vực miền Nam, Chính phủ Thái Lan đã cho thi hành chính sách “Nắm đấm sắt”“găng tay nhung”, thực thi những hành động quân sự cứng rắn, kết hợp với tăng cường viện trợ kinh tế- xã hội, Chính phủ Thái Lan tăng ngân sách cải thiện việc làm, giáo dục và chất lượng cuộc sống. Nhiều tỉ bạt đã được đổ vào miền Nam Thái Lan dưới những hình thức và dự án, tạo ra hàng ngàn việc làm cho lao động địa phương. Các chuyên gia dân sự, quân sự đến từng thôn bản mở các lớp khuyến nông, đào tạo nghề, hệ thống y tế được cải thiện, nhiều người dân (nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn) được khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí.  Nhà nước tài trợ cho các đoàn đại diện tôn giáo, phụ nữ, thanh niên các tỉnh miền Nam về thủ đô thăm quan, tiếp kiến những vị lãnh đạo cấp cao đất nước, dự các buổi nói chuyện về chính sách hoà giải dân tộc. Năm 2005, chính Phủ đã lập một quỹ trị giá 1,8 tỉ bạt (tương đương 45 triệu USD) trợ giúp gia đình các nạn nhân bị giết hại và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi bạo loạn ở miền Nam Thái Lan (5).
          Đầu năm 2005, chính phủ Thái Lan cho thành lập uỷ ban hoà giải quốc gia (NRC) với thành phần đông đảo các chính khách, học giả, nhà sư, lãnh tụ tôn giáo… nhằm tư vấn giúp Chính phủ giải quyết tình hình bạo loạn, bất ổn ở khu vực miền Nam bằng biện pháp chính trị, đối thoại hoà bình. Uỷ ban hoà giải quốc gia đã tiến hành đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người dân Hồi giáo miền Nam, trên cơ sở đó kiến nghị với Chính phủ nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp cho khu vực này. NRC còn chỉ ra những bất cập trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ, qua đó Chính phủ đã lắng nghe ý kiến từ cộng đồng người Hồi giáo và cam kết theo đuổi giải pháp hoà bình, thực hiện chiến dịch tuyên truyền giành lại tình cảm của dân chúng Hồi giáo khu vực Miền Nam. Hy vọng kiến tạo sự đồng thuận trong việc giải quyết tình hình tại khu vực miền Nam. Dù vậy, hố ngăn cách giữa Băng Cốc và cộng đồng Hồi giáo miền Nam Thái Lan vẫn còn rất rộng. Những thanh niên miền Nam nghèo túng, thất học, không có việc làm, nói được tiếng Thái rất ít luôn dễ bị kích động và có cảm tình với phong trào bạo động ở miền Nam.
      Song song với giải pháp mềm dẻo là những chính sách cứng rắn của Chính phủ: quân đội và cảnh sát khu vực miền Nam luôn ở trong trạng thái sắn sàng chiến đấu cao, thiết quân lệnh được thực thi, tình trạng khẩn cấp được ban bố, các trạm kiểm soát dựng lên ngày càng nhiều, hệ thống Camera giám sát được tăng cường. Sư đoàn bộ binh số 15 và sư đoàn “Phát triển” với quân số gần 20.000 người được triển khai lâu dài ở khu vực miền Nam sẵn sàng trấn áp các phần tử bạo loạn, tổ chức tuần tra, bảo vệ các tuyến đường, những cơ sở, công trình hạ tầng quan trọng.
       Với chính sách “Nắm đấm sắt”, hàng loạt các vụ càn quét, vây ráp, bắt giữ của quân đội và cảnh sát ở khu vực miền Nam Thái Lan đã diễn ra, nhiều thủ lĩnh cũng như tín đồ Hồi giáo bị bắt, bị truy sát…hành động này đi ngược với những cam kết của Chính phủ giải quyết tình hình miền Nam Thái Lan bằng con đường hoà bình thương lượng, dẫn tới những nghi ngờ trong dân chúng và nguy cơ thu hẹp những thành quả dân chủ hiện nay ở miền Nam Thái Lan. Chính sách “Nắm đấm sắt” sẽ rất có thể lại thổi bùng lên ngọn lửa hận thù mới của cộng đồng Hồi giáo nơi đây.
        Thứ hai: Thái Lan chưa tìm được sự hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là từ In đô nê xi a, Ma lai xi a, Oxtrâylia, Hoa Kỳ và cộng đồng Hồi giáo thế giới thông qua Tổ chức Hội nghị các nước Hồi giáo I.O.C.
        Trong những chương trình nghị sự gần đây giữa Chính phủ  Thái Lan và Ma lai xi a, hai bên đã chia xẻ mối quan tâm những vấn đề của cộng đồng Hồi giáo gây tổn hại lợi ích của cả hai nước và thảo luận những biện pháp giải quyết các vấn đề do lịch sử để lại. Chính phủ hai nước nhất trí tăng cường trao đổi thông tin tình báo, chống buôn lậu vũ khí, vấn đề thâm nhập bất hợp pháp qua đường biên giới…Thái Lan đề nghị Ma lai xi a giám sát chặt chẽ công dân mang hai quốc tịch, xiết chặt kiểm soát những điểm xuất nhập cảnh giữa hai nước. Phía Ma lai xi a tuyên bố tiếp tục hợp tác với Thái Lan đảm bảo không ủng hộ các phong trào Hồi giáo ly khai, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Thái Lan, không cho phép sử dụng lãnh thổ của Ma lai xi a làm căn cứ huấn luyện, đào tạo của các nhóm ly khai. Tuy nhiên, cho đến nay phía Ma lai xi a vẫn chưa phát hiện được chỗ ẩn náu và bắt giữ bất kỳ một nhân vật nào trong bản danh sách mà Thái Lan đang cần bắt giữ nhất.
       Thái Lan cũng đã chấp thuận phái đoàn Tổ chức Hội nghị Hồi giáo thế giới I.O.C vào thị sát tình hình miền Nam. I.O.C đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ Thái Lan trong việc giải quyết tình hình khu vực miền Nam, I.O.C khẳng định phản đối các hoạt động bạo lực ở  nơi đây. Với Ốtxtrâylia và Hoa Kỳ, Thái Lan tăng cường hợp tác trao đổi thông tin tình báo, đẩy mạnh hợp tác chống khủng bố. Ốtxtrâylia đã giúp Thái Lan huấn luyện lực lượng chống khủng bố, cấp học bổng cho sinh viên miền Nam Thái Lan sang  Ốtxtrâylia du học…
        Có thể nói trước những diễn biến phức tạp của tình hình miền Nam Thái Lan thời gian gần đây, Chính phủ Thái Lan mặc dù đã rất nỗ lực đưa ra hàng loạt các giải pháp để giải quyết nhưng dường như kết quả lại hết sức hạn chế. Nhà chức trách Thái Lan rất cần có những điều chỉnh mới, tích cực và đồng bộ: đầu tư cơ sở hạ tầng phải đi đôi với chống tham nhũng, lãng phí. Phát triển kinh tế – xã hội phải đi đôi với bảo đảm quyền dân chủ, công bằng. Tôn trọng, bảo vệ và khích lệ truyền thống văn hoá cư dân địa phương, đối xử bình đẳng giữa tín đồ Phật giáo và Hồi giáo, tạo điều kiện cho trí thức Hồi giáo tham gia bộ máy công quyền từ trung ương tới địa phương với một tỉ lệ hợp lý. Sự có mặt của lực lượng quân đội và cảnh sát là cần thiết nhưng vấn đề miền Nam Thái Lan chỉ có thể giải quyết tận gốc rễ thông qua hoà bình thương lượng. Con đường đi tới bình yên cho mảnh đất miền Nam Thái Lan vẫn đầy chông gai, thử thách phía trước, một bài toán không dễ giải cho Chính phủ đương nhiệm của Thái Lan. Trước tình trạng bạo loạn, ly khai và khủng bố gia tăng liên tục và ngày càng nghiêm trọng từ năm 2001 đến nay ở miền Nam Thailand, khu vực có đa số người Hồi giáo sinh sống, chính phủ Thailand đã áp dụng hàng loạt các biện pháp để ngăn chặn, kiểm soát tình hình. Tuy nhiên, những biện pháp đó thiên về đàn áp bằng lực lượng quân đội và cảnh sát, điều đó đã dẫn tới những hệ quả xấu, làm cho tình hình bạo động ở tình hình miền Nam Thailand không lắng dịu đi mà còn bùng phát dữ dội hơn.
        Thứ ba: Vấn đề chống khủng bố      
          Thực ra Thailand đã có ý thức chống khủng bố khá sớm do lo ngại sự thâm nhập và hoạt động của các tổ chức khủng bố trong khu vực vào miền Nam Thailand như Jemaah Islamiyah, Abu Sayyaf, KMM, Al Qaeda. Đầu năm 2001, trung tâm chống khủng bố Thailand (TIC) được thành lập và nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ phía Mỹ. Những thông tin trung tâm cung cấp đã giúp lực lượng an ninh Thailand bắt giữ nhiều thành viên khủng bố từ nước ngoài xâm nhập. Ngày 10 tháng 6 năm 2003, ba thành viên Jemaah Islamiyah đã bị bắt với tội danh âm mưu đánh bom các Đại sứ quán Mỹ, Australia, Anh, Ixaraen và Singapore ở Băng Cốc, những phần tử này còn có kế hoạch tấn công các mục tiêu nằm trong khu vực khách du lịch nước ngoài hay lui tới ở Băng Cốc, Pattaya và Phuket. Ngày 11 tháng 8 năm 2003, cảnh sát Thailand phối hợp với tình báo Mỹ đã bắt giữ Hambali, thủ lĩnh tổ chức Jemaah Islamiyah có quan hệ chặt chẽ với Al Qaeda. Hambali có thời gian dài hoạt động tại Băng Cốc, tiến hành tổ chức, phối hợp và tài trợ cho các cuộc tiến công khủng bố trên toàn khu vực.
         Thứ tư: Cải thiện hạ tầng cơ sở, đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, cải thiện đời sống người dân, bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo là gốc rế giải quyết mọi xung đột, bất ổn
         Những vụ bạo động khốc liệt diễn ra thường xuyên gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh chính phủ, đưa miền Nam Thailan trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu của chính phủ. Giờ đây, chính phủ đã thừa nhận rộng rãi về nhu cầu phải chú ý đến tình trạng bất mãn của người Hồi giáo miền Nam mà từ đây cả những khuynh hướng Hồi giáo cấp tiến lẫn chủ nghĩa ly khai đều đang thu hút sức mạnh. Tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, lạm dụng ma tuý, tội phạm và tham nhũng của quan chức địa phương cao hơn các vùng khác trên đất nước. Cộng đồng thiểu số Hồi giáo lo lắng về sự xói mòn các giá trị văn hoá và tôn giáo, suy sụp lòng tin với chính quyền…mà những chính sách của chính quyền trung ương cần phải có rất nhiền thời gian mới phát huy hiệu quả, lòng tự trọng của người Hồi giáo bị tổn thương và họ sẽ lại bắt đầu “một cơn giận dữ mới”. Một nhà phân tích nước ngoài đã nhận xét rất đúng “người ta không thể lấp đầy 20 năm trong vài tháng”.
         Tình hình phức tạp, bất ổn ở miền Nam Thái Lan cũng như các giải pháp mà Chính phủ Thái lan đã thực hiện là những bài học hết sức thiết thực cho Việt Nam cũng như các quốc gia Đông Nam Á, bởi lịch sử cũng như hiện tại của khu vực này mang đặc điểm đa dân tộc, đa văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng. Những thế kỷ bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược, đô hộ chúng đã lợi dụng, khoét sâu gây mâu thuẫn, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, sắc tộc để lại hậu quả nặng nề không dễ khắc phục một sớm một chiều. Từ bài học của Thái Lan cho thấy các quốc gia khi đối mặt với vấn đề tương tự cần có một giải pháp toàn diện, thiết thực và bền vững thông qua các chính sách kinh tế, văn hóa, tôn giáo…đảm bảo lợi ích chính đáng và bình đẳng giữa các khu vực, các dân tộc trong một quốc gia – khi đó, mọi vấn đề bất ổn sẽ tự được giải quyết.
          * Chú thích:
         (1), (2). TTXVN, “Tình hình miền Nam tiếp tục căng thẳng”, Tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 17/11/2004, trang10 - 13. 
        (3).Báo Nhân dân ngày 6/6/2007, trang 4.
        (4). Anthony Davis: “Thái Lan đối mặt với cuộc bạo động của phe ly khai tại khu vực đạo Hồi miền Nam” (Nguyễn Quang Trung Dịch), Bộ Quốc Phòng – Trung tâm thông tin khoa học môi trường, Hà Nội, 2004, trang12.
        (5) Hà Thanh Cung- Vũ Như Hùng, “Thách thức đối với chính Phủ Thái lan”, Báo Nhân Dân, ngày 12/7/2005.