Tổng số lượt xem trang
Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018
Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018
101 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA – NHỮNG GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN
NHN
Cuộc
Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 đã có lịch sử hơn một thé kỷ. Đây là
Cuộc cách mạng to lớn, vĩ đại nhất, có tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội rộng
lớn, sâu sắc nhất trong đời sống thế giới nhân loại của thế kỷ XX. Điều đó là
không thể phủ nhận dù năm tháng qua đi.
Tuy nhiên, các
thế lực phản động vẫn tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, cố tình hạ
thấp tầm vóc của Cách mạng Tháng Mười và bôi nhọ chủ nghĩa xã
hội. Chúng ra sức khai thác sự kiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Đông Âu tan rã để tuyên truyền rằng: chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi
thời, chủ nghĩa xã hội đã chấm dứt, chỉ có chủ nghĩa tư bản là
văn minh và bền vững,… hòng làm nhiễm độc bầu không khí tinh thần của
xã hội. Chúng xuyên tạc trắng trợn và thâm độc rằng: Cách mạng
Tháng Mười Nga chỉ là một cuộc đảo chính; những người cộng sản do
V. I. Lê-nin lãnh đạo chỉ là quân phiến loạn, rằng đây là một cuộc
cách mạng đẻ non. Họ quy chụp nguyên nhân biến cố ở Liên Xô và Đông Âu
làm tan rã hệ thống xã hội chủ nghĩa là từ Cách mạng Tháng Mười.
Đó là sự xuyên tạc lịch sử và chân lý, tỏ rõ một thái độ vô đạo
lý, cần phải vạch trần và phê phán. Vậy sự thật là ở đâu?
Lịch sử đã cho thấy:
Với thắng lợi của
Cách mạng Tháng Mười, một thời đại mới đã bắt đầu - thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực,
với chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản đã ở vào vị thế đảng
cầm quyền. Trước Cách mạng Tháng Mười, nước Nga với chế độ chuyên chế Nga Hoàng
được ví như tù ngục lớn nhất của các dân tộc phương Đông. Cách mạng đã lật đổ
quyền thống trị của giai cấp tư sản, của lực lượng chuyên chế phong kiến Nga
Hoàng, xóa bỏ tình cảnh nô lệ của quần chúng công - nông, đem lại cho họ quyền
tự do, dân chủ và địa vị làm chủ xã hội. Sắc lệnh về hòa bình và Sắc
lệnh về ruộng đất được chính quyền Xô viết ban bố ngay trong Cách
mạng Tháng Mười đã minh chứng cho điều đó.
Lần đầu tiên trong lịch sử, một Nhà nước kiểu mới đã
ra đời, xác lập quyền lực của nhân dân, nhân dân trở thành người chủ, nắm lấy
quyền lực nhà nước và tự quyết định vận mệnh của mình. Cùng với Nhà nước kiểu
mới đó, nền dân chủ cho số đông, dân chủ xã hội chủ nghĩa được
xây dựng và thực hiện. Đó là những dấu hiệu căn bản đặc trưng cho chính thể mới
trong một chế độ xã hội kiểu mới, khác về nguyên tắc, bản chất so với chính thể
tư sản và chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa đã bị phủ định bởi Cách mạng Tháng
Mười vĩ đại – làm rung chuyển cả thế giới.
Cách mạng Tháng
Mười Nga mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử thế giới hiện đại. Nhân loại
được thức tỉnh bởi sự kiện này và từ đây, lịch sử đã sang trang mới, với sự
khẳng định sức mạnh sáng tạo vĩ đại của quần chúng nhân dân, trong tư cách là
chủ thể làm nên lịch sử. Các thế hệ những người cách mạng, các dân tộc mang
khát vọng tự do, công bằng và bình đẳng ở khắp nơi đã nhận được từ di sản Cách
mạng Tháng Mười những xung lực mới để hành động, nhằm cải tạo xã hội cũ và xây
dựng xã hội mới, thúc đẩy sự phát triển vì độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ và
chủ nghĩa xã hội. Những giá trị, lý tưởng và mục tiêu đó được sinh thành từ
Cách mạng Tháng Mười, được gìn giữ và phát huy trong thực tiễn phong trào cách
mạng của thế kỷ XX, hiện nay và mãi về sau. Đó là những giá trị bền vững xuyên
suốt thời gian, nguồn sáng vô tận soi sáng con đường cách mạng của các dân tộc
trên thế giới. Rõ ràng, giá trị, sức sống và ý nghĩa của cuộc Cách
mạng Tháng Mười là một thực tế lịch sử không gì có thể phủ nhận. Nó đã ở
trong lương tâm và ký ức nhân loại, đang tiếp tục định hướng cho sự phát triển
của thế giới đương đại trong cuộc hành trình tới độc lập, tự do và chủ nghĩa xã
hội. Thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã trở thành giá trị văn
hóa trong đời sống tinh thần của nhân loại.
Tính chất vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga còn ở
chỗ, chủ nghĩa xã hội sinh thành trong cuộc Cách mạng này dù là đơn
nhất nhưng đã mang ý nghĩa phủ định về nguyên tắc đối
với chủ nghĩa tư bản. Từ đây, sự lựa chọn con đường phát triển không chỉ duy
nhất là tư bản chủ nghĩa mà còn là xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa, quá độ lên chủ nghĩa xã hội; lô-gíc lịch sử - tự nhiên của
phát triển xã hội đã có sự hiện diện của con đường không qua chủ nghĩa
tư bản. Đó là tính chất và nội dung của thời đại mới, do Cách mạng Tháng
Mười khai sinh. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng Trung Quốc
(1949) và Cách mạng Cu Ba (1959) là những cuộc cách mạng điển hình nhất trong
thế kỷ XX, được dẫn dắt và soi sáng bởi Cách mạng Tháng Mười là những minh
chứng thực tế, rõ ràng, không thể phủ nhận sự thực của lịch sử, không
một thế lực phản động nào có thể xuyên tạc được.
Giá trị của Cách
mạng Tháng Mười nhắc nhở chúng ta phải một lòng trung thành với lý tưởng
và mục tiêu của cuộc Cách mạng vĩ đại ấy. Đã 101 năm lịch sử đi qua
từ đó, với biết bao sự kiện mà nhân loại đã chứng kiến, có thành
công và cả thất bại, có vinh quang chói sáng và cả những bi kịch đắng
cay. Nhưng những giá trị của Cách mạng Tháng Mười sẽ không bao giờ bị
tiêu diệt. Đó là lời khẳng định xuất phát từ xu thế vận động của lịch
sử là không ngừng tiến lên, không ngừng phát triển; từ sức
sống bền bỉ của các cuộc cách mạng chân chính, đích thực.
Những bài học từ Cách mạng Tháng Mười và lịch sử
hơn một thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn còn nguyên
giá trị, tính thời sự sâu sắc và vẫn mãi còn hữu ích cho hậu thế
trong việc nhận thức đầy đủ những chân giá trị của
Cách mạng Tháng Mười, từ sự thật những gì đã xảy ra, từ chân
lý của khoa học và cách mạng. Những giá trị ấy càng thức tỉnh và
đòi hỏi các thế hệ phải ghi nhớ bài học đạo lý về lòng biết ơn và
sự trung thành với cách mạng, nghĩa vụ và trách nhiệm trong xây dựng
và phát triển xã hội mới tốt đẹp mà Cách mạng Tháng Mười đã mở
đường, chỉ hướng.
Những sai lầm
có tính nguyên tắc trong quá trình cải tổ ở
Liên Xô và Đông Âu dẫn đến kết cục đổ vỡ, như một tấn bi kịch nát
lòng trong lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực cuối thế kỷ XX lại
cho thấy ý nghĩa cảnh báo sâu xa của V. I. Lê-nin: mất phương
hướng chính trị trong những thời điểm bước ngoặt, đối với một Đảng
cầm quyền (Đảng Cộng sản Liên Xô) giống như một hành động tự sát.
Giờ đây, khi chủ nghĩa xã hội đang cải cách và đổi mới để vượt qua
những khó khăn, thử thách thì việc những người cách mạng tự ý thức
sâu sắc những bài học đã qua - “những bài học được chiết xuất từ
những vị thuốc đắng của lịch sử” để không rơi vào vết xe đổ, tự
hủy hoại lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam, di sản
vĩ đại và cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những kinh nghiệm được
tổng kết qua chặng đường hơn 30 năm đổi mới đã minh chứng cho lòng
trung thành và niềm tin của chúng ta với Cách mạng Tháng Mười, với
chủ nghĩa Mác – Lê-nin để vững bước đi lên trên con đường độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ và Đảng ta, dân
tộc ta đã chọn. Đó là con đường được soi sáng bởi Cách mạng Tháng
Mười, dẫn dắt chúng ta đến một nền độc lập, tự do thực sự mà lợi
ích dân tộc, độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là
thiêng liêng, một chủ nghĩa xã hội thấm nhuần sâu sắc bản chất khoa
học, cách mạng và nhân văn, thống nhất hữu cơ giữa tính dân tộc, tính
nhân dân, tính giai cấp với tinh thần thời đại và chủ nghĩa quốc tế
chân chính. Đó là điều không thể phủ nhận.
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018
Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018
NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ NHẤT THỂ HÓA TỔNG BÍ THƯ – CHỦ TỊCH NƯỚC
NHN
Việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được
Quốc hội nhất trí với sự đồng thuận 100% dự bầu giữ chức Chủ tịch nước có thể
coi là một bước đột phá mạnh mẽ của hệ thống chính trị Việt Nam. Tuy nhiên, lợi
dụng sự kiện này, một số tổ chức, cá nhân phản động đã xuyên tạc, bóp méo bản
chất vấn đề mưu đồ hạ uy tín của Đảng, Nhà nước, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Điển hình như bài viết “Nguyễn
Phú Trọng làm chủ tịch nước” của blog Người buôn gió
ngày5/10/2018. Trong bài viết của mình, y dùng những lời lẽ hàm hồ có chủ ý
rằng Tổng bí thư ham vọng quyền lực, rằng cái chết của Chủ tịch nước Trần Đại
Quang là “bất ngờ”; thực hiện nhất thể hóa Tổng Bí thư – Chủ tịch nước là theo
chân Trung Quốc v..v…
Để rộng đường dư luận và để nhân dân có
cái nhìn khách quan, thấu đáo, nhận thức được chiêu trò chống phá, xuyên tạc
của các tổ chức, cá nhân phản động, bài viết này xin được bàn về lịch sử nhất
thể hóa Tổng Bí thư – Chủ tịch nước, đây không phải là vấn đề mới ở trên thế
giới và Việt Nam, và càng không phải là một hình thức “độc tài quyền lực”.
Vấn đề “nhất thể hóa Tổng
Bí thư – Chủ tịch nước” được hiểu là thống nhất chức danh có vị trí và vai trò
tương đương của Đảng và chính quyền, đã được bàn thảo luận rất nhiều, rất rộng
rãi ở nước ta. Đã được thử nghiệm hạn
chế một số vị trí chủ chốt ở cấp cơ sở, như Quảng Ninh hay TP. Hồ Chí Minh. Từ
thực tiễn, đến cuối năm 2017, BCH Trung ương đã thông qua Nghị quyết số
18-NQ/TW, qua đó tạo cơ sở để “nhất thể hóa” chức danh được thực hiện thí điểm
quy mô lớn tại cấp huyện, xã trên quy mô toàn quốc.
Việc “nhất thể hóa Tổng
Bí thư – Chủ tịch nước” đã từng được thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn lãnh
đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng thôi không áp dụng sau khi Bác qua đời năm
1969.
Các quốc gia theo mô
hình XHCN khác áp dụng “nhất thể hóa” ở mức độ và hình thức khác nhau. Trung
Quốc “nhất thể hóa” Tổng bí thư và Chủ tịch nước vào năm 1992, dưới thời Giang
Trạch Dân. Lào thống nhất chức danh chủ tịch nước và vị trí đứng đầu của Đảng
vào năm 1998, dưới thời chủ tịch Khamtai Siphandon, và giữ nguyên tiền lệ này
dưới thời của chủ tịch Choummaly Sayasone và Bounnhang Vorachith. Ở Cuba hiện
tại thực chất thực hiện chế độ “lưỡng đầu chế”, khi Raul Castro giữ vai trò bí
thư thứ nhất của Đảng và tham gia cố vấn, còn chức danh chủ tịch nhà nước và
hội đồng bộ trưởng thuộc về nhà lãnh đạo Miguel Mario Díaz-Canel.
Nói vậy để thấy
“nhất thể hóa Tổng Bí thư – Chủ tịch nước”, hoàn toàn không phải là thay đổi
nào quá lớn, hay đi ngược lại xu thế của các nước xã hội chủ nghĩa. Đây chỉ đơn
giản là một cách sắp xếp quyền lực trong hệ thống lãnh đạo, và nhìn nhận dưới
một số góc độ, có nhiều điểm tích cực.
Thứ nhất, nhất thể hóa giải quyết vấn đề nan
giải liên quan đến hoạt động đối ngoại. Vị trí Tổng bí thư có vai trò quan
trọng trong việc xác định đường lối ngoại giao, chiến lược phát triển, và quan
điểm chung của Đảng và nhà nước Việt Nam. Trên thực tế, vai trò của Tổng bí thư
tương đương với vị trí nguyên thủ của các quốc gia. Tuy vậy, về mặt danh nghĩa,
Tổng bí thư vẫn chỉ là lãnh đạo một đảng – dù ở nước ta là Đảng cầm quyền –
khiến việc tiếp xúc, giao thiệp, thảo luận, hay trao đổi với các nguyên thủ
khác nhiều khi gặp rắc rối về nghi lễ ngoại giao. Nhất thể hóa sẽ “chính thức
hóa” vai trò của Tổng bí thư (kiêm Chủ tịch nước), qua đó giải quyết vấn đề
này.
Thứ hai, nhất thể hóa chức vụ cao nhất sẽ cho
thấy quyết tâm tinh giản biên chế, thu gọn bộ máy hành chính ở cấp cao nhất. Ở
nước ta, trên thực tế tồn tại hai hệ thống hành chính vận hành song song từ
Trung ương xuống địa phương: một hệ thống hành chính nhà nước, và hệ thống hành
chính của Đảng. Dù có điểm tích cực là hai bộ máy có thể giám sát lẫn nhau,
giám sát quyền lực, nhưng hệ thống “nhị nguyên” này tạo ra chi phí khổng lồ cho
ngân sách nhà nước.
Từ đầu nhiệm kỳ 2016
– 2021, BCHTW Đảng đã có những bước đi quyết liệt ở các cấp dưới, như việc tái
cấu trúc Bộ Công an, sáp nhập các phòng – ban của Đảng và chính quyền có nhiệm
vụ tương đương ở cấp tỉnh, hay thí nghiệm nhất thể hóa chức danh lãnh đạo địa
phương. Tuy vậy, những bước đi này sẽ chỉ đạt được thành công, nếu có quyết tâm
và hành động từ vị trí cao nhất.
Thứ ba, mặc dù có vai trò thực tế rất lớn, nắm
trong tay những quyết định quan trọng với đất nước, vị trí Tổng bí thư thực tế
chỉ chịu trách nhiệm giải trình với BCHTW Đảng, chứ không phải cơ quan dân bầu
là Quốc hội. Nhất thể hóa chức danh sẽ tạo điều kiện để thực hiện giám sát
quyền lực tốt hơn. Cơ chế mới cũng có thể mở ra tiền lệ Tổng bí thư (kiêm Chủ
tịch nước) có thể trả lời chất vấn trước Quốc hội.
Nhất thể hóa chức
danh ở vị trí cao nhất là bước đi đột phá của hệ thống chính trị. Quyền lực của
Tổng Bí thư – Chủ tịch nước được giám sát chặt chẽ bởi các thể chế đi kèm để
đảm bảo yếu tố dân chủ, loại bỏ nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, tha hoá quyền
lực.
Như vậy, nhất thể
hóa Tổng Bí thư – Chủ tịch nước tới đây sẽ là một bước đi mạnh mẽ trong đổi mới
hệ thống chính trị ngay ở cấp cao nhất, phù hợp với thực tiễn khách quan và
điều kiện lịch sử của đất nước mới. Nhân dân tiếp tục trông chờ, tin tưởng vào
sự lãnh đạo sáng suốt, hiệu quả, quyết liệt của Tổng Bí thư khi được bầu giữ
cương vị Chủ tịch nước, bởi đó là sự gặp gỡ của ý Đảng – lòng dân, hoàn toàn
hợp hiến, hợp pháp!
NHỮNG DẤU ẤN ĐẶC BIỆT CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ ĐỖ MƯỜI
NHN
Trong tiến trình đổi mới,
hội nhập của đất nước, cố Tổng bí thư Đỗ Mười là một nhà lãnh đạo có nhiều dấu
ấn trong lĩnh vực ngoại giao, văn hóa, ông là người sáng tạo ra câu slogan đối
ngoại mang đậm bản sắc dân tộc – đó là: "Việt
Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước"
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




